Đầu tư cho khoa học và công nghệ để cạnh tranh xuất khẩu thủy sản |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 2/V. Các vấn đề khác |
| Đề mục | : | 69.99 Các vấn đề khác của thuỷ sản |
| Từ khoá | : | Khoa học công nghệ ; Đầu tư ; Cạnh tranh ; Thuỷ sản ; Xuất khẩu |
| Nội dung: | ||
|
Theo báo cáo của Bộ Thuỷ sản, chỉ tính đến năm 1996 đến nay, đầu tư ngân sách Nhà nước cho hoạt động khoa học & công nghệ của Bộ Thuỷ sản tăng lên nhanh chóng, mức đầu tư bình quân đạt 14 tỷ đồng/năm (giai đoạn 1996 – 2000) và 28 tỷ đồng/năm giai đoạn 2001 – 2003. Riêng năm 2004, vốn đầu tư cho hoạt động này đã lên tới 38 tỷ đồng. Ngoài vốn đầu tư trực tiếp, các cơ quan nghiên cứu của Bộ còn triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ được cấp kinh phí từ các nguồn khác như: các dự án hợp tác quốc tế, chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước, chương trình khuyến ngư Trung ương với số tiền khoảng trên 10 tỷ đồng/năm.
Hiện tại, các tỉnh có nghề cá phát triển thì ngân sách địa phương đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ thuỷ sản cũng đạt khoảng 2 đến 5 tỷ đồng/năm. Với nguồn vốn này, ngành thuỷ sản đã triển khai thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ sâu rộng trong toàn ngành như: quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, nghiên cứu và triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thông tin, sở hữu công nghiệp, hợp tác quốc tế, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tăng cường tiềm lực cho các trung tâm khoa học công nghệ. Trong đó, các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ các sản phẩm mũi nhọn được đặc biệt chú trọng đầu tư. Nhờ đó, những năm qua, ngành thuỷ sản đã thu được những thành tựu đáng kể trong phát triển ngành, đóng góp quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ năm 1996 đến nay, ngành thuỷ sản liên tục đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 5%/năm về sản lượng, 20%/năm về giá trị xuất khẩu thuỷ sản, chiếm tỷ trọng 10 đến 11% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo Bộ Thuỷ sản, các giải pháp sắp tới của khoa học và công nghệ là ưu tiên cho các đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn đề đặc thù trong sản xuất của ngành, các công nghệ tiên tiến trên thế giới mà Việt Nam cần song không thể nhập được. Cần đổi mới phương thức thực hiện đề tài, theo đó các đề tài nghiên cứu có tính chất ứng dụng sẽ khuyến khích tăng cường gắn kết với các cơ sở sản xuất để và kết quả nghiên cứu của đề tài được tạo ra có giá trị thực tiễn, khả thi áp dụng; chú trọng quản lý Nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ; quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học, nâng cao năng lực nghiên cứu cho các đơn vị nghiên cứu; đẩy mạnh công tác khuyến ngư; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế khoa học và công nghệ ... Hiện nay, đối với lĩnh vực nguồn lợi và khai thác hải sản, các đề tài, dự án đã đi sâu nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển. Qua đó ngành đã xác định được các đối tượng khai thác chính, khu vực cá tập trung và các đối tượng công nghệ khai thác có hiệu quả, thích hợp cho từng vùng biển gần bờ. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp cho việc đánh giá thực trạng nguồn lợi hải sản, môi trường vùng biển xa bờ, tình hình tàu thuyền, công nghệ khai thác, điều kiện kinh tế xã hội của các tỉnh ven biển và góp phần điều chỉnh cơ cấu sản lượng khai thác thuỷ sản xa bờ. Đối với lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, những nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi trồng thương phẩm một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, nghiên cứu kiểm soát môi trường, bệnh thuỷ sản, các mô hình nuôi sạch hướng đến sản xuất sản phẩm thuỷ sản đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhờ đó, ngành thuỷ sản đã xây dựng được nhiều quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong đó nhóm thuỷ sản nước ngọt là: cá chép lai, trê lai cá Rôhu, Mrigal, cá trắm cỏ, Catla, mè trắng, mè hoa, cá trôi, cá lăng, cá thác lác, cá chim trắng... Nhóm thuỷ sản nước lợ, nước mặn là: cá song, cá giò, cá vược, cá hồng mĩ, tôm sú, tôm rảo, ghẹ xanh, cua biển, trai ngọc... Hiện tại, cả nước có 5.017 trại tôm giống nước lợ với tổng sản lượng đạt 25,17 tỷ con; sản xuất 20,2 vạn con cá song giống, 33 vạn cá hồng mĩ, 50 vạn cua giống... Với 652 trại giống cá nước ngọt. Mỗi năm các trại này cung cấp cho thị trường 22 tỷ cá bột; 11,2 tỷ cá giống. Hầu hết các loài cá kinh tế nước ngọt đã được xây dựng quy trình sản xuất giống được áp dụng rộng rãi và hiệu quả trong sản xuất. Nguồn: TC Tài chính, 6/2004, tr. 9. ******************************** |
||
