BẮC NINH NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯỚI TIÊU CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 1/Phát triển cơ sở hạ tầng |
| Đề mục | : |
70.17 Công trình thuỷ lợi và cải tạo đất
70 Thuỷ lợi. Cải tạo đất |
| Từ khoá | : | hệ thống thủy nông ; Bắc Ninh |
| Nội dung: | ||
|
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích đất canh tác là 48.759 ha nhưng năng lực các hệ thống thủy nông trong tỉnh có những hạn chế, không đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Năm 2004, diện tích tưới tiêu chủ động trên toàn tỉnh chỉ đạt 48,16%; còn lại trên 32.675 ha ruộng, chiếm 51,84% diện tích canh tác vẫn còn thiếu nước. Diện tích thường xuyên bị hạn chiếm tới 7.095 ha, bằng 14,55% diện tích canh tác; trong đó có 2.650 ha đất băi ngoŕi sông và 4.445 ha ở cuối nguồn kênh tưới và vùng cao cục bộ.
Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do hệ thống các công trình thủy lợi tưới tiêu phần lớn được xây dựng từ những năm 1960 đến 1997 đã xuống cấp nghiêm trọng; các trạm bơm máy móc bị cũ nát, lạc hậu và thường xuyên bị hư hỏng nặng. Hai hệ thống thủy nông Bắc Đuống và Nam Đuống có các trạm bơm đều xa sông lớn và phụ thuộc vào mực nước của các con sông đồng thời hệ thống kênh tưới quá dài; một số vùng thiếu các trạm bơm; hệ thống kênh mương và các trục tiêu chính lâu ngày không được nạo vét đã bị bùn bồi lắng; việc tu bổ tôn cao các bờ vùng không được tỉnh chú ý quan tâm...; do đó dẫn đến tình trạng khi có mưa lớn việc tiêu thoát nước hết sức hạn chế. Để giải quyết tình trạng trên, UBND tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện các giải pháp để nâng cao năng lực hoạt động của các hệ thống thuỷ nông, đáp ứng yêu cầu cung cấp và tiêu nước phục vụ sản xuất. Tỉnh đă đầu tư kinh phí xây dựng vŕ hoàn chỉnh quy hoạch thuỷ lợi cho phù hợp với điều kiện tưới tiêu ở từng vùng, từng khu vực đồng thời chỉ đạo các huyện, thị xă trong tỉnh tăng cường vai trò quản lý Nhà nước, tuyên truyền phổ biến pháp lệnh khai thác, bảo vệ các công trình thủy nông; từng bước xã hội hoá công tác này; ngăn chặn xử lý các hành vi vi phạm, đặc biệt là tình trạng xây dựng các công trình lấn chiếm kênh mương; cấm đưa chất thải vào lòng kênh gây ách tắc và ô nhiễm nguồn nước. Tỉnh còn phát động chiến dịch làm thuỷ lợi cải tạo đất, huy động sức dân tham gia nạo vét, khơi thông các trục tięu, các kęnh tưới; tôn cao, khép kín các bờ vùng, bờ thửa để nâng cao năng lực tưới tiêu của toàn bộ hệ thống thủy lợi trong tỉnh. Tỉnh thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy thuỷ nông các cấp, thành lập các HTX dịch vụ thuỷ nông cơ sở, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tưới tiêu. UBND tỉnh đã ban hành quyết định về cơ chế thu thuỷ lợi phí, cấp bù kinh phí cho hai công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Đuống vŕ Nam Đuống để đảm bảo hoạt động tốt. Tuy nhiên, do khả năng đầu tư có hạn, trong năm 2005 tỉnh chỉ đạo tập trung tiếp tục bố trí vốn đầu tư cho bốn công trình chuyển tiếp là cải tạo nâng cấp hệ thống thuỷ nông Gia Thuận với tổng vốn đầu tư 75 tỷ đồng, trạm bơm Phong Khê (3,7 tỷ đồng), trạm bơm Phù Khê - Hương Mạc (5, 3 tỷ đồng) và kênh khu công nghiệp Tiên Sơn (10, 5 tỷ đồng); tiến hành nâng cấp và xây mới 14 công trình thuỷ nông khác. Tỉnh chỉ đạo làm tốt việc khơi thông các trục tiêu, tu bổ sửa chữa, nạo vét các kênh tưới thuộc hai công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Đuống và Nam Đuống, đảm bảo tốt việc duy tu, bảo dưỡng thường xuyên hệ thống máy móc thiết bị và hệ thống kênh mương từ loại II trở lên. Trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010, tỉnh đầu tư xây dựng mới các trạm bơm Trí Quả (huyện Thuận Thành), cải tạo nâng cấp các trạm bơm Trịnh Xá, Hiền Lương, Kim Đôi I, Phả Lại... đồng thời tiến hành nạo vét các trục tiêu chính như: sông Thứa, sông Bùi, sông Ngụ, sông Húc, sông Luồng và tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương; trong đó ưu tiên kiên cố hoá các kênh tưới trên các tuyến Hương Vinh-Vạn Ninh, Keo-Tuyên Bá, kênh Bắc và kênh Nam Trạm bơm Trịnh Xá.../. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam ngày 1/1/2005 |
||
