ĐỊNH HƯỚNG SẢN XUẤT MỘT SỐ CÂY TRỒNG NĂM 2005 |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Nông thôn đổi mới |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 1/Đường lối - Chính sách |
| Đề mục | : |
68.35 Trồng trọt
68.01 Các vấn đề chung |
| Từ khoá | : | lúa gạo ; sắn ; đậu tương ; mía ; điều ; 2005 |
| Nội dung: | ||
|
1) Lúa gạo: Dự báo thị trường thế giới lúa gạo năm 2005 vẫn có giá tốt. Để tăng thęm giá trị phải mở rộng diện tích lúa chất lượng cao có giá >300 USD/tấn gạo, đảm bảo gạo trắng CLC chiếm 40% trong tổng lượng gạo xuất khẩu. Lúa thơm: Năm 2004, đă XK được 80.000 tấn gạo thơm, gấp đôi năm 2003 nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được một nửa nhu cầu của 2 Tổng công ty Lương thực. Năm 2005 cần mở rộng diện tích với những yęu cầu sau: + Dùng Jasmin là giống chủ lực (ngoài ra tuỳ điều kiện của từng địa phương mŕ dùng giống KDL, ST3, ST5) + Chỉ trồng lúa thơm vào vụ mùa hoặc vụ Đông Xuân. + Trồng thành vùng, cánh đồng chuyên lúa thơm để tránh lẫn tạp. Tốt nhất là những cánh đồng trồng lúa thơm chỉ trồng 1 vụ lúa thơm + 2 vụ màu. + 100% dùng giống xác nhận. Với các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên: Đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ là nhiệm vụ hàng đầu, bởi vậy năng suất cao lŕ ưu tiên số một. Tuỳ từng điều kiện mà có thể sử dụng một vài giống chất lượng cao nhưng không phải là phổ biến. 2) Ngô (bắp): Ngô là cây trồng phát triển mạnh và ổn định trong nhiều năm qua với běnh quân 10%/năm. Sản lượng hiện nay lŕ 3 triệu tấn, đáp ứng 50% nhu cầu. Mặc dů giá thành sản xuất của ta cao hơn nhiều so với một số nước khác nhưng giá bán vẫn rất tốt do mất cân đối cung cầu. Cần mở rộng diện tích. 3) Đậu tương (đậu nŕnh): Sản lượng hiện nay là 230.000 tấn/năm, đáp ứng 30% nhu cầu. Tương tự như ngô, cần mở rộng thęm diện tích. 4) Sắn (mì): Năm 2004 nŕy sắn rất được giá và đang có xu hướng tăng nhanh diện tích tự phát. Quan điểm của Bộ Nông nghiệp vŕ Phát triển nông thôn là cần gắn chặt chế biến với sản xuất, gắn các nhà máy với vùng nguyên liệu, để có biện pháp bồi bổ đất, không vě lợi ích trước mắt mà làm đất suy kiệt. 5) Mía: Năm 2004 - 2005 nŕy vẫn thiếu mía cho một số nhà máy, vẫn sẽ xảy ra tranh mua, tranh bán. Các địa phương cần giúp Hiệp hội làm tốt công tác này vì để xảy ra tranh mua tranh bán thì cả nông dân và nhà máy đều bị thiệt. Giá đường năm 2005 vẫn tốt. Năng suất vŕ chất lượng mía là mấu chốt sống còn của ngành mía đường. 6) Điều: Thị trường điều vẫn vô cůng rộng lớn, giá điều năm 2005 vẫn tốt. Cơ quan khuyến nông các địa phương cần hướng dẫn kỹ thuật sớm, nhất lŕ lúc trổ bông để đạt năng suất cao nhất vào vụ điều tới. 7) Tiêu: Việt Nam xếp thứ 1 trên thế giới về xuất khẩu tiêu chiếm 40% số tiêu giao dịch toàn thế giới. Giá tiêu thế giới rất không bền vững vì cung đã vượt xa cầu nên mỗi khi giá xuống thấp thì VN sẽ bị thiệt nhiều nhất. Không mở rộng thêm diện tích, nhất là những nơi có giá thành >15.000 đ/kg; tập trung các biện pháp thâm canh, tăng năng suất. 8) Cao su: Giá cao su năm 2005 vẫn rất tốt. 9) Cà phê: Giá cà phê 2005 tiếp tục ở mức thấp. 10) CAQ: Đang thiếu những trái cây chất lượng cao. Thị trường dứa thế giới đang bị thiếu trầm trọng, giá dứa vẫn rất tốt kể cả dứa hộp vŕ nước dứa. Sản lượng dứa của ta mới đáp ứng 30% công suất của các nhŕ máy. Cần mở rộng diện tích. 11) Cây lâm nghiệp: Lâm nghiệp mới chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu của xuất khẩu đồ gỗ, năm 2004 đă phải nhập 1 triệu m3 gỗ. Danh sách và sản lượng các nước xuất khẩu gỗ ngày một giảm. Cần gấp rút trồng rừng trên cơ sở chất lượng cao, nhưng kiên quyết không ồ ạt kiểu phong trào. 12) Chăn nuôi: Phục hồi chăn nuôi gia cầm, phát triển chăn nuôi, phňng chống dịch bệnh cần triển khai quyết liệt vě nguy cơ tái phát dịch vẫn rất cao. Nguồn: Tác giả: Thanh Nam, T/C Nông nghiệp Việt Nam, Số 213/2004, tr. 11 |
||
