Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Thông tin tư liệu » 2008 » Số 1 » Nghiên cứu-Trao đổi » Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ

Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ

  
Dạng tài liệu :
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tác giả : ThS. Nguyễn Văn Hành
Tên nguồn trích : Thông tin tư liệu
Dữ liệu nguồn trích : 2008/Số 1/Nghiên cứu-Trao đổi
Đề mục :
Từ khoá :
Nội dung:
Trình bày những nét chính về tín chỉ và các điều kiện về học liệu để đào tạo đại học theo học chế tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam trên cơ sở Quyết định số 31/2001 của Bộ GD&ĐT. Đề xuất một số giải pháp đáp ứng các điều kiện về học liệu như: chính sách phát triển học liệu; quản lý và phục vụ học liệu; áp dụng công nghệ thông tin vào xây dựng CSDL môn học, để thư viện đại học trở thành trung tâm tích hợp nguồn tài liệu dạng số, tiến tới phục vụ học liệu “mọi lúc, mọi nơi” cho giảng viên và sinh viên.

1. Mở đầu
Đổi mới giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Một trong những biện pháp quan trọng là đổi mới cách dạy và học trong trường đại học, theo hướng tạo cho sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức, lấy tự học, tự nghiên cứu làm hoạt động quan trọng trong quá trình học; giảng viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng,... Phương pháp đào tạo theo tín chỉ đáp ứng được yêu cầu trên và trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để đào tạo theo tín chỉ, mọi hoạt động của trường đại học đều phải có những thay đổi, trong đó có hoạt động thông tin-thư viện (TT-TV). Việc phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ của nhà trường trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của các thư viện trường đại học nước ta hiện nay.
2. Các điều kiện về học liệu để đào tạo đại học theo tín chỉ
Tín chỉ (Credit) là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm: (1) thời gian học tập trên lớp; (2) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; (3) thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.
Điều kiện để đào tạo theo tín chỉ đã được nêu ngay trong QĐ số 31/2001 của Bộ GD&ĐT, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, các cơ sở đào tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập”. Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu trong các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình.
Có thể tham khảo việc cụ thể hóa điều kiện trên trong “Hướng dẫn sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ của Đại học Quốc gia Hà Nội” [3]. Tài liệu này chỉ rõ những nhiệm vụ của giảng viên, của sinh viên trong thực hiện giờ tín chỉ. Ngoài những nhiệm vụ chung, các nhiệm vụ có liên quan đến chuẩn bị học liệu được hướng dẫn cụ thể: ***

Giờ tín chỉ Nhiệm vụ của Giảng viên Nhiệm vụ của Sinh viên
Giờ lý thuyết - Xác định các nội dung tự học và cách học cho sinh viên, các vấn đề, các câu hỏi, bài tập, các loại tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để sinh viên chuẩn bị cho thảo luận trên lớp
- Xây dựng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng các học liệu/tài liệu phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
- Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan,…


Giờ thảo luận - Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, yêu cầu, tài liệu tham khảo để từng nhóm hoặc từng sinh viên chuẩn bị và trình bày. Chỉ rõ các địa chỉ thông tin để sinh viên có thể tìm được và hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công,…
Giờ hoạt động theo nhóm - Lựa chọn và giao nội dung, các vấn đề, công việc và các yêu cầu liên quan cho các nhóm sinh viên thực hiện, nguồn tài liệu tham khảo tối thiểu…
- Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công cho từng thành viên với nhiệm vụ, thời gian hoàn thành, nguồn tài liệu tham khảo,…

Giờ thực hành, thực tập, thí nghiệm - Chỉ đạo hoặc/và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sinh viên làm thực hành
- Làm bài thực hành, thực tập; viết báo cáo thực hành, thực tập
Giờ tự học, tự nghiên cứu - Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu tối thiểu SV cần đọc, nghiên cứu. Hướng dẫn cách thức tìm kiếm, xử lý thông tin khi tự học, tự nghiên cứu (chỉ rõ cách tìm kiếm theo cấu trúc kiến thức bài học, cụ thể đến từng chương, mục, trang,… của các học liệu)
- Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu mà giảng viên giao.
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, giảng viên phải chuẩn bị tập tài liệu/học liệu bổ trợ cho môn học đã thu thập được hoặc có minh chứng là sinh viên có thể tiếp cận được, ví dụ như chỉ ra địa chỉ lưu trữ các tài liệu này.
Như vậy, nguồn tài liệu hay học liệu là rất cần thiết cho phương pháp đào tạo theo tín chỉ. Vấn đề là ở chỗ, các thư viện đại học cần phải làm gì để đảm bảo nguồn tài liệu/học liệu trước yêu cầu mới của phương pháp đổi mới đào tạo đại học này.
3.Giải pháp phát triển học liệu phục vụ đào tạo đại học theo tín chỉ
3.1. Phát triển kho học liệu
Vốn tài liệu/nguồn tin trong thư viện trường đại học phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như công tác quản lý người dùng tin trong trường đại học. Như vậy, trong đào tạo theo tín chỉ, “học liệu” chính là một bộ phận của “vốn tài liệu” hay “nguồn tin” của thư viện trường đại học.
Có thể tạm phân loại nguồn học liệu theo các phương diện khác nhau:
Về loại hình, học liệu bao gồm:
- Tài liệu dạng truyền thống: tài liệu in trên giấy, như sách, báo, tạp chí, bản nhạc in,…
- Tài liệu dạng hiện đại, như tài liệu nghe-nhìn (A-V), tài liệu điện tử. Tài liệu điện tử có dạng lưu trữ trên đĩa CD-ROM và CSDL online.
Theo mục đích sử dụng, học liệu gồm:
- Tài liệu bắt buộc đọc: giáo trình, tập bài giảng, tài liệu tham khảo chính.
- Tài liệu tham khảo khác.
Theo bản quyền, có thể có:
- Học liệu mở (Open Course);
- Học liệu được sử dụng chỉ khi được cấp quyền truy cập.
Việc phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tương đối, bản thân một tài liệu có thể mang tất cả hoặc một vài các đặc tính trên. Việc phân loại này còn mang ý nghĩa phục vụ cho công tác tổ chức, quản lí kho học liệu và xây dựng các quy định về phục vụ học liệu trong thư viện đại học.
Đổi mới chính sách phát triển vốn tài liệu/học liệu:
Diện bổ sung phải sát hợp với từng đề cương môn học theo tín chỉ của giảng viên đã được cơ sở đào tạo thông qua. Trong từng đề cương bài giảng theo tín chỉ, giảng viên đã đưa ra danh mục tài liệu bắt buộc sinh viên đọc và danh mục tài liệu yêu cầu đọc thêm. Đây là căn cứ rất quan trọng cho thư viện xây dựng kế hoạch bổ sung theo đề tài/theo môn học.
Đặc biệt chú ý phát triển kho giáo trình - kho học liệu mà sinh viên bắt buộc phải đọc. Trong thư viện đại học lâu nay đã có kho giáo trình, giáo khoa, chủ yếu là tài liệu do các giảng viên trong nhà trường biên soạn. Khi đào tạo theo phương pháp cũ (đào tạo theo học trình), sinh viên tất nhiên vẫn phải có giáo trình để học, nhưng không phải là bắt buộc, thậm chí có trường hợp sinh viên chỉ cần học theo bài ghi trên lớp là có thể đạt kết quả của các kỳ thi. Còn theo phương pháp đào tạo theo tín chỉ, yêu cầu mượn và đọc tài liệu là bắt buộc, do phương pháp dạy và học mới qui định. Kho giáo trình bây giờ được hiểu rộng hơn, gồm cả những bài giảng của giảng viên ở dạng giấy và dạng điện tử.
3.2. Quản lý và phục vụ học liệu
3.2.1. Quản lý học liệu
Hiện nay trong các trường đại học ở nước ta, đầu mối quản lý nguồn học liệu chủ yếu là thư viện của trường, mặc dù tên gọi thư viện đại học còn khác nhau, như Thư viện Đại học, Trung tâm Thông tin-Thư viện, Trung tâm học liệu,... Điều này có thuận lợi vì các thư viện đại học cho đến nay có nguồn tài liệu phong phú và đa dạng. Hầu hết các thư viện đại học đã được hiện đại hóa, bước đầu có khả năng phục vụ được cả nguồn tài liệu/học liệu hiện đại, như tài liệu điện tử, nguồn tài liệu số hóa.
Phương pháp quản lý học liệu:
Nâng cao chất lượng quản lý nguồn tài liệu/học liệu theo kỹ thuật nghiệp vụ TT-TV thông thường: áp dụng các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến trong xử lí tài liệu, trong tổ chức kho tài liệu để tiến tới phục vụ liên thông giữa các thư viện đại học. Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ như phân loại theo Khung phân loại Thập tiến Dewey (Dewey Decimal Classification - DDC), biên mục mô tả theo Qui tắc biên mục Anh - Mỹ (Anglo - American Cataloguing Rules - AACR2) và Khổ mẫu Biên mục đọc máy (Machine Readable Cataloguing - MARC21), đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức cho phép trong công văn số 1598/BVHTT-TV, ngày 07 tháng 5 năm 2007 (Về việc: Áp dụng chuẩn nghiệp vụ trong các thư viện Việt Nam). Nhiều thư viện đại học lâu nay đã đi theo xu hướng áp dụng các chuẩn trên, nay lại thêm có cơ sở pháp lý để đi đến chuẩn hóa trong hệ thống và là điều kiện thuận lợi cho phục vụ liên thông giữa các thư viện đại học.
Quản lý học liệu theo môn học/ngành học: Trong kỹ thuật thư viện, từ lâu đã có phương pháp quản lý kho tài liệu theo môn loại của Bảng phân loại thư viện - thư mục, hoặc theo chủ đề của Bảng đề mục chủ đề, đều là quản lý tài liệu theo nội dung. Tuy vậy điều này chưa hoàn toàn sát hợp và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý tài liệu theo các ngành đào tạo, các môn học trong trường đại học.
Theo yêu cầu của kiểm định chất lượng đào tạo đại học, thư viện đại học phải đáp ứng số đầu sách cho từng môn học theo chuẩn nhất định [2]. Nếu thống kê theo ký hiệu phân loại thông thường sẽ không đáp ứng được yêu cầu này. Còn theo yêu cầu của đào tạo theo tín chỉ, thư viện phải chỉ ra nguồn tài liệu/học liệu bắt buộc đọc và tài liệu tham khảo cho từng môn học, thì kỹ thuật biên mục theo nội dung thông thường cũng không đáp ứng được.
Do vậy, để quản lý nguồn học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ các thư viện cần xây dựng CSDL môn học, gồm những thông tin thư mục và toàn văn (nếu có) về tài liệu có trong thư viện cho giảng viên và sinh viên sử dụng. Bên cạnh ký hiệu phân loại theo kỹ thuật thư viện, các thư viện cần phải nghiên cứu xây dựng một bảng ký hiệu thể hiện từng môn học trong trường đại học để khi biên mục sẽ “phân loại” tài liệu theo “ký hiệu môn học” luôn. Việc này sẽ rất có ích cho công tác quản lý và phục vụ học liệu cho đào tạo theo tín chỉ.
Công nghệ quản lý: Ngoài việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản trị thư viện thông thường, cần tăng cường công nghệ quản lý nguồn học liệu số hóa. Thư viện trường phải trở thành trung tâm tích hợp nguồn học liệu dạng số của nhà trường. Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên sẽ được sử dụng rất nhiều dạng bài giảng điện tử do giáo viên biên soạn, không đơn thuần chỉ có dạng dữ liệu toàn văn (fulltext) mà cả dạng dữ liệu là âm thanh và hình ảnh. Do vậy, thư viện phải có một phần mềm quản trị tích hợp, có các chuẩn về nghiệp vụ TT-TV và về CNTT phù hợp tiêu chuẩn quốc tế [5]. Đồng thời phải có một hạ tầng CNTT đủ mạnh để đảm bảo cho giảng viên và sinh viên truy nhập và sử dụng CSDL học liệu mọi lúc và mọi nơi.
3.2.2. Phục vụ học liệu
-Thư viện phải nắm vững kế hoạch đào tạo của các khoa, thậm chí cả lịch học của từng môn học để có kế hoạch đáp ứng học liệu kịp thời. Chủ động trong việc đảm bảo học liệu cho giảng viên và sinh viên, chuyển từ hình thức phục vụ thụ động “phục vụ những gì mình có sẵn” sang hình thức chủ động “phục vụ theo yêu cầu ”.
-Đa dạng hóa các hình thức phục vụ; tăng cường giờ phục vụ. Thực hiện hình thức mượn liên thư viện, trước hết là giữa các thư viện đại học.
-Để nâng cao hiệu quả việc sử dụng tài liệu/học liệu cho phương pháp đào tạo theo tín chỉ, người dùng tin là giảng viên và sinh viên cần được đào tạo về Kiến thức thông tin (Information Literacy) một cách bài bản. Đó là những kiến thức và kỹ năng nhận biết nhu cầu thông tin, xác định, đánh giá và sử dụng thông tin đúng và có hiệu quả.
-Vấn đề bản quyền trong sử dụng học liệu cần được chú trọng. Các qui định về sao chụp tài liệu, sử dụng tài liệu điện tử trực tuyến cần tuân thủ luật sở hữu trí tuệ [1]. Những vấn đề về bản quyền tài liệu điện tử, như giáo trình, bài giảng điện tử cần được thể chế hóa trong nội quy phục vụ bạn đọc của thư viện.
4.Kết luận
Chuyển đổi phương pháp đào tạo đại học từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ là một cuộc đối mới toàn diện trong trường đại học - thể hiện triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động của người học, lấy đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập làm gốc cho nên nó là một giải pháp tổng thể để nâng cao chất lượng đào tạo. Các thư viện đại học không thể đứng ngoài cuộc. Bám sát chương trình đào tạo, lịch trình dạy và học của giảng viên và sinh viên, các thư viện đại học cần có những chiến lược phát triển vốn tài liệu/học liệu sát hợp với ngành đào tạo và từng môn học; tổ chức và phục vụ nguồn học liệu với công nghệ hiện đại và phương pháp phục vụ tiện lợi nhất, theo tinh thần đáp ứng yêu cầu thông tin của người dùng tin là giảng viên và sinh viên ở “mọi lúc, mọi nơi”. Người cán bộ thư viện, không phải chỉ là thủ thư đơn thuần, mà phải trở thành người tư vấn cho giảng viên, người hướng dẫn sinh viên biết tiếp cận và sử dụng nguồn học liệu - nguồn tin phù hợp và hiệu quả nhất. Thư viện trường đại học phải thực sự trở thành trung tâm thông tin văn hóa, khoa học, giáo dục và trung tâm học liệu của trường đại học- giảng đường thứ 2 của giảng viên và sinh viên.

Tài liệu tham khảo
1.Bản quyền trong việc triển khai dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu trong các thư viện đại học / Trần mạnh Tuấn // Thư viện Việt Nam: hội nhập và phát triển: Kỷ yếu hội thảo quốc tế về thư viện. Tp.HCM 28-30/8/2006.- tr.70-74
2.Kiểm định chất lượng đào tạo đại học- thời cơ và thách thức đối với các thư viện đại học Việt Nam / Nguyễn Văn Hành // Tạp chí Thông tin và Tư liệu, 2007, số 1.- tr. 15-19
3.Tài liệu tập huấn và tham khảo về phương thức đào tạo theo tín chỉ / Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN.- H., 2006
4.Thúc đẩy mối quan hệ cán bộ thư viện – giảng viên trước yêu cầu chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ / Đồng Đức Hùng // Khoa học và thực tiễn hoạt động TT-TV: Kỷ yếu hội thảo, kỷ niệm 10 năm thành lập TTTT-TV ĐHQGHN (1997-2007). Hà nội 2007.- tr.15-22
5.Tổ chức tài nguyên số phục vụ đổi mới giáo dục đại học / Nguyễn Huy Chương, Tôn Quốc Bình, Lâm Quang Tùng // Kỷ yếu hội thảo tổ chức hoạt động TT-TV trong trường đại học. Đà Nẵng 28-29/10/2004.- tr.71-79
6.Vai trò của thủ thư đối với việc học trực tuyến: các trung tâm học liệu Việt Nam / Myly Nguyên // Thư viện Việt Nam: hội nhập và phát triển: Kỷ yếu hội thảo quốc tế về thư viện. Tp.HCM 28-30/8/2006.- tr.118-130

Nhìn ra thế giới
Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia phục vụ hoạt động đổi mới

Đổi mới và đảm bảo thông tin cho hoạt động đổi mới
Đổi mới-đó là sự áp dụng các ý tưởng/sản phẩm và dịch vụ/quy trình và các giải pháp thực tiễn có tính mới hoặc được cải tiến một cách căn bản để nhận được một lợi ích nào đó. Trong kinh tế và kinh doanh, người ta thường phân biệt 4 loại hình đổi mới chủ yếu:
- Đổi mới sản phẩm;
- Đổi mới công nghệ;
- Đổi mới hàng hoá và dịch vụ;
- Đổi mới tổ chức.
Thuật ngữ “đổi mới” đã được nhà khoa học Mỹ gốc Áo, ông Shumpeter (1883-1950), đưa ra trong cuốn sách “Thuyết phát triển kinh tế” năm 1911, theo đó đổi mới được định nghĩa là:
-Sự tạo ra hàng hoá mới mà người tiêu dùng còn chưa biết, hoặc phẩm chất hàng hoá mới;
-Sự tạo ra phương pháp sản xuất mới, chưa được thử nghiệm ở một ngành nhất định và hoàn toàn không nhất thiết phải dựa trên phát minh khoa học mới và có thể nằm dưới dạng hình thức lưu thông thương mại mới của hàng hoá;
-Sự mở ra thị trường mới, tức là thị trường trong đó ngành công nghiệp ở một nước nhất định chưa buôn bán, cho dù thị trường này trước đó có tồn tại hay không;
-Sự mở ra một nguồn yếu tố sản xuất mới, cho dù trước đó nó có tồn tại hay không, hay buộc phải tạo lại;
-Thành lập một tổ chức lĩnh vực mới, ví dụ độc quyền hay xoá bỏ vị thế độc quyền.
Trong cuốn Tiêu chuẩn Quốc tế “Hoạt động đổi mới: Thuật ngữ và định nghĩa”, đổi mới được định nghĩa là “những công nghệ/dạng sản phẩm hoặc dịch vụ, cũng như các giải pháp tổ chức-kỹ thuật mới hoặc hoàn thiện, tạo khả năng đưa công nghệ, hàng hoá và dịch vụ ra thị trường”. Đổi mới là kết quả cuối cùng của hoạt động thực thi ở thị trường đối với sản phẩm, quy trình công nghệ hoặc biện pháp tổ chức-kỹ thuật mới hoặc được hoàn thiện.
Như vậy, hoạt động đổi mới động chạm đến hầu hết các mặt của đời sống kinh tế hiện đại. Đổi mới ngày càng trở thành một xu hướng quan trọng trong sự phát triển kinh tế hiện nay, và sự hỗ trợ bằng mọi cách cho hoạt động đổi mới đang ngày càng là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý.
Ở Cộng đồng châu Âu, việc đảm bảo thông tin cho hoạt động đổi mới được cơ quan Dịch vụ Thông tin Nghiên cứu-Phát triển của Cộng đồng Châu Âu (Community Research-Development Information Service- CORDIS) bắt đầu từ 18/11/1990. Để thu thập, xử lý và phổ biến thông tin hữu ích cho hoạt động đổi mới, CORDIS đã thành lập một cổng đặc biệt, cho phép mọi đối tượng hay tổ chức quan tâm nhận được mọi tư liệu và thông tin theo dự án đổi mới tương ứng. Những thông tin này được nhận từ tất cả các nguồn mà CORDIS tiếp cận. Tính đến 11/11/2005, CORDIS đã có 66.995 dự án đổi mới do Cộng đồng châu Âu thực hiện được đăng ký.
CORDIS soạn thảo và xuất bản các tạp chí thư mục và chỉ dẫn về hoạt động đổi mới, các báo cáo kết quả nghiên cứu, cũng như các xuất bản phẩm định kỳ về đổi mới.
Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia trước yêu cầu phục vụ hoạt động đổi mới
Ở Liên bang (LB) Nga trước năm 1992 đã tồn tại Hệ thống thông tin KH&KT quốc gia (GSNTI). Hệ thống này được xây dựng theo nguyên tắc cơ quan nhà nước, được cấp kinh phí từ ngân sách. Hệ thống này có những ưu điểm, song cũng tồn tại những nhược điểm lớn, như:
-Sự trùng lặp trong công việc;
-Sự phân tán các nguồn lực tổ chức;
-Sự tương tác và hợp tác yếu giữa các viện/trung tâm thông tin KH&CN.
Sự bất cập của GSNTI Liên bang Nga trong việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thông tin đang gia tăng của hoạt động đổi mới nằm ở cơ cấu của nó. Vào những năm gần đây, các tổ chức thành viên của GSNTI đã tồn tại độc lập và tuyệt nhiên không liên hệ gì với nhau về quan điểm và công nghệ. Cho đến nay, vẫn chưa có được một quan điểm và chiến lược phát triển tầm quốc gia về kết cấu hạ tầng thông tin để phục vụ cho hoạt động KH&CN và đổi mới.
Khu vực tư nhân phát triển mạnh với bộ phận cung cấp thông tin KH&CN của riêng nó đã làm nổi lên vấn đề tương tác giữa các cơ quan thông tin nhà nước và tư nhân. Người ta cho rằng, phải xây dựng một GSNTI mới, và dựa vào đó, sự tương tác này sẽ được thực hiện thông qua các hiệp hội chuyên môn tương ứng, nơi mà các công trình nghiên cứu khoa học, đào tạo, thống nhất các thuật ngữ,…có thể được tiến hành.
GSNTI mới sẽ cần phải có các loại trung tâm thông tin như sau:
-Trung tâm chịu trách nhiệm thu thập, hệ thống hoá, lưu trữ, tìm kiếm và phổ biến các thông tin khoa học cơ bản, KH&CN và xã hội, y học, nông nghiệp, xây dựng và kiến trúc từ các nguồn xuất bản phẩm trên thế giới, trừ các tài liệu sáng chế, tiêu chuẩn (trên cơ sở Viện thông tin KH&CN LB Nga);
-Trung tâm thông tin về các tư liệu khoa học không xuất bản;
-Trung tâm thông tin tiêu chuẩn;
-Trung tâm dịch thuật các tài liệu KH&CN;
-Mạng các thư viện KH&CN tương tác;
-Mạng các trung tâm phân tích và tổng hợp thông tin khoa học về các hướng nghiên cứu triển vọng, cũng như mạng các cơ quan tư vấn (Think Tanks).
Cần đặt trước GSNTI mới một nhiệm vụ chiến lược là đảm bảo sự tiếp cận với các nguồn xuất bản phẩm KH&CN nước ngoài chủ yếu, nhờ đó hỗ trợ cho an ninh về thông tin khoa học của đất nước.
Hiện nay, ở Moskva có trên 15 thư viện lớn đang hoạt động, mỗi thư viện có các kho lưu trữ trên 1 triệu đơn vị tư liệu. Những khoản kinh phí lớn đã được chi dùng cho nội dung của các thư viện đó, tuy nhiên, rõ ràng là chưa đủ để bổ sung thích đáng và lưu trữ những kho lớn như vậy. Bởi vậy, cần nghiên cứu khả năng và lợi ích của việc liên kết chúng thành một mạng thống nhất, giống như nước Anh đã làm vào giai đoạn 1970-1980. Việc lập ra một mạng như vậy sẽ có thể giúp tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực chi dùng cho việc bổ sung và lưu trữ những kho đó.
Hạt nhân để tạo lập mạng lưới đó có thể là Thư viện quốc gia LB Nga, nhưng chức năng của nó cần phải được tăng cường thêm, cụ thể là:
- Phải có kho tài liệu KH&CN đầy đủ hơn, đặc biệt là tài liệu nước ngoài;
- Soạn thảo, xuất bản và phổ biến “Thư mục quốc gia”;
- Sưu tầm, lưu trữ và đưa vào sử dụng tất cả các xuất bản phẩm của LB Nga;
- Thực hiện chức năng là trung tâm dịch vụ thông tin cho Quốc hội;
- Có trong thành phần của mình Trung tâm quốc gia về quyền tác giả;
- Thực thi sự lãnh đạo về khoa học-phương pháp luận cho công tác của mạng thư viện quốc gia.
Công tác đảm bảo thông tin KH&CN cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được GSNTI mới đặc biệt coi trọng.
Trong cuộc Hội thảo quốc tế “LIBCOM-2005” đã có một báo cáo được trình bày nhan đề “Quan điểm phát triển hệ thống thông tin quốc gia để phục vụ hoạt động KH&CN và đổi mới”. Báo cáo này đã xem xét khả năng đảm bảo thông tin theo kịch bản là phát triển kết cấu hạ tầng thông tin với tư cách là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống đổi mới quốc gia. Những điểm quan trọng nhất được đề cập như sau:
- Xác định rõ và mở rộng các phương hướng và chủ thể trong công tác đảm bảo thông tin cho hoạt động đổi mới;
- Tích cực bổ sung các nguồn lực thông tin, nâng cao chất lượng và mở rộng phạm vi đảm bảo thông tin;
- Cải tiến kỹ thuật và công nghệ của kết cấu hạ tầng thông tin, mở rộng quan hệ đối tác công-tư để thu hút các nguồn tài chính ngoài ngân sách cho lĩnh vực thông tin;
- Phát triển cơ sở tiêu chuẩn-pháp quy cho hoạt động thông tin khoa học;
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin.
Những nội dung cơ bản của GSNTI trước đây, bao gồm việc đảm bảo sự tiếp cận rộng rãi với thông tin, tích lũy tri thức, hình thành các nguồn lực thông tin quốc gia, đảm bảo công tác gìn giữ tư liệu cần phải được duy trì trong hệ thống mới. Điều đặc biệt quan trọng là phải phát huy một cách hiệu quả tiềm năng đã tích lũy được của hệ thống đó, bao gồm các tập thể cán bộ có trình độ chuyên môn cao, khối lượng thông tin khổng lồ mà các tổ chức thành viên GSNTI đã tạo ra (quỹ sách/tạp chí, các cơ sở dữ liệu,...). Để thực thi nguyên tắc “một cửa” trong công tác đảm bảo thông tin cho người dùng, cần phải tiến hành tập trung hóa các nguồn lực, dựa theo dạng nguồn lực.
Hệ thống thông tin KH&CN hiện nay không được hạn chế trong khuôn khổ những thông tin trong lĩnh vực KH&CN cơ bản mà cần lưu ý đến cả những lĩnh vực kinh tế, sinh thái, khảo cổ học, xã hội học, pháp quyền, lịch sử,... vì vai trò của chúng đối với xã hội cũng không hề thua kém vai trò của vật lý, toán học hay chế tạo máy.
Hỗ trợ thông tin cho hoạt động đổi mới là hết sức cần thiết, nhưng hình thức hỗ trợ nên thay đổi. Cần từ bỏ việc đặt mua toàn bộ hoặc không có địa chỉ đối với các ấn phẩm và nguồn tin điện tử, cũng như việc cung cấp chung chung các dịch vụ thông tin- thư viện. Ý tưởng cơ bản ở đây là bổ sung các phương pháp phổ biến thông tin hiện có bằng các phương pháp có định hướng, kể cả từ phía mua thông tin, lẫn từ phía hỗ trợ thông tin.
Để đảm bảo thông tin đúng địa chỉ, sử dụng hiệu quả hơn các phương tiện tài chính, hình thành các nguồn tin trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu người dùng tin và phân tích thị trường thông tin khoa học thế giới, nên thành lập một Trung tâm thống nhất để hỗ trợ thông tin cho hoạt động đổi mới. Trung tâm này cần phải thành lập dưới hình thức hệ thống mở, có khả năng tăng cường những thành viên tham gia.
Kiều Gia Như (Tổng hợp từ các tài liệu của LB Nga)
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia