Chính sách biến đổi khí hậu của Singapore |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 24/Biến đổi khí hậu |
| Đề mục | : | 87.51 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở từng khu vực và từng nước |
| Từ khoá | : | Chính sách ; Biến đổi khí hậu ; Chiến lược |
| Nội dung: | ||
|
Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu của Singapore
Năm 2008, Chính phủ Singapore đã đưa ra Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (NCCS). Trong đó, các cơ quan môi trường, đặc biệt là Cơ quan môi trường quốc gia (NEA) và Bộ Môi trường và Tài nguyên Nước (MEWR) đã kêu gọi hành động nhằm giải quyết mối đe doạ của biến đổi khí hậu, bao gồm những nỗ lực giảm thiểu. Giảm thiểu hiệu quả nghĩa là giảm phát thải và đánh giá theo “mẫu số chung nhỏ nhất”. Vào năm 2050 phát thải toàn cầu cần phải giảm 50% so với mức của năm 1990 bằng việc cắt giảm phát thải từ năm 2020, thì thế giới sẽ có cơ hội 50-50 để ngăn chặn biến đổi khí hậu thảm khốc. NCCS tóm tắt một số sáng kiến quan trọng về chính sách mới hiện nay. Tuy nhiên, lại không đề cập đến việc Singapore sẽ hoặc nên phải giảm phát thải của nước này. Cũng không có mục tiêu hoặc tuyên bố nào về chính sách của MEWR hoặc NEA về việc cắt giảm hoàn toàn phát thải của Singapore. Điều này phù hợp với quan điểm của Singapore trong các cuộc đàm phán quốc tế như một nước “không nằm trong phụ lục 1”, xếp Singapore vào danh mục nước đang phát triển cùng với các nước như Inđônêxia, Việt Nam và Kenya. Hiện nay, các nước đang phát triển không có bất cứ nghĩa vụ nào trong việc giảm phát thải ngoại trừ trường hợp bất thường như Singapore, còn hầu hết các nước đều có phát thải bình quân thấp hơn nhiều so với những nước thuộc “Phụ lục 1”. Mục tiêu cơ bản của chiến lược quốc gia nhằm tăng khả năng cạnh tranh về chi phí của nền kinh tế Singapore vì hầu hết các sáng kiến đều liên quan đến các khuyến khích về giá cả cho các công ty và các hộ gia đình về việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. Các chính sách khác của chính phủ nhằm khuyến khích các nguồn tăng trưởng GDP mới bằng việc phát triển các ngành công nghiệp năng lượng sạch và khuyến khích các doanh nghiệp phát triển theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) của NĐT Kyoto. Nhìn chung, báo cáo của Chính phủ Singapore nhấn mạnh vào những thành tựu và nêu ra những vấn đề mà Singapore đang làm, có thể làm và cần làm. Cường độ phát thải cácbon Mặc dù Singapore đạt được nhiều thành tích môi trường về tín dụng cacbon nhưng giảm thiểu biến đổi khí hậu lại không phải là một trong số những thành tích này. Những nỗ lực của Singapore phần lớn nhằm đạt được mục tiêu về cường độ phát thải cácbon. Đây không phải là mục tiêu hướng tới nếu chúng ta quan tâm đến giảm thiểu biến đổi khí hậu. Mức độ phát thải cácbon của nền kinh tế chính là phát thải CO2 trên mỗi đôla GDP và Singapore đã giảm mức độ phát thải 25% so với mức của năm 1990, thậm chí là trước thời điểm cần đạt được mục tiêu là năm 2012. Cũng vào thời điểm này, phát thải thực tế sẽ tăng gần gấp đôi. Singapore chưa đặt ra mục tiêu làm giảm tình trạng biến đổi khí hậu. Việc đạt tổng phát thải CO2 của Singapore không phải dễ dàng. Năm 2006, 3 nguồn tin cung cấp các số liệu khác nhau về tổng phát thải CO2 từ việc đốt các nhiên liệu hoá thạch: • MEWR của Singapore đưa ra số liệu là 41.552.000 tấn; • Báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) là 43.130.000 tấn; • Cơ quan thông tin năng lượng (EIA), thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ đưa ra số liệu là 141.100.000 tấn. EIA tính đến các kho nhiên liệu quốc tế được bán phục vụ cho cả giao thông hàng hải và hàng không, nhưng MEWR loại bỏ cả 2 yếu tố này. Theo các điều khoản trong những hiệp ước quốc tế, Singapore là một bên tham gia nên được quyền không tính đến các kho nhiên liệu quốc tế. Tuy nhiên, phát thải được sinh ra do đốt những loại nhiên liệu này lại không dễ dàng biến khỏi khí quyển. Kể từ năm 1990, phát thải của Singapore tăng gấp đôi (dự báo của MEWR) hoặc hơn hai lần (EIA). Vậy các nguồn phát thải chính là gì? và các nguồn này sẽ tăng hay giảm trong tương lai? Sản xuất điện gây ra khoảng 1/2 phát thải của Singapore (48% năm 2005). Theo số liệu của NCCS, tỷ lệ điện năng được sản xuất từ khí thiên nhiên của Singapore tăng, làm giảm 40% phát thải CO2 trên một đơn vị điện được sản xuất so với nhiên liệu từ dầu mỏ. Sản xuất điện từ khí thiên nhiên tăng từ 19% tổng sản lượng điện trong năm 2000 lên 79% trong năm 2007. Vì vậy, lượng CO2 được giảm nhờ từ quá trình chuyển đổi này rất lớn. Năm 2008, nhà máy điện đốt than mới của một trong những công ty sản xuất điện ở Singapore đã được phép hoạt động. Theo những hướng dẫn về chính sách hiện nay, các công ty sản xuất điện không được khuyến khích chuyển sang các nhiên liệu ít phát thải hơn và mô hình kinh doanh của các công ty phụ thuộc vào mức tiêu thụ điện ngày càng tăng của các hộ gia đình và các công ty. Những người tiêu dùng điện ở Singapore luôn có một số khuyến khích để làm giảm hoá đơn tiền điện và thực tế đã từ lâu, Chính phủ Singapore cũng đưa ra chính sách khuyến khích hiệu suất năng lượng. Nguồn phát thải chủ yếu khác ở Singapore là giao thông, chiếm 19% tổng phát thải. Từ năm 1990, chính sách của Chính phủ Singapore cho phép tăng tổng số xe cộ lên 3%/năm, nhiều hơn gấp đôi so với tổng số xe cộ trong thời kỳ trước đó. Từ năm 2009, mức tăng côta hàng năm đã giảm 1,5%. Tuy nhiên, các khuyến khích chuyển sang các loại xe ít phát thải vẫn còn rất khiêm tốn, nên tổng số “xe xanh” chỉ có khoảng 1500 trong số gần 900 000 xe. Chính sách của Chính phủ Singapore chưa đưa ra những khuyến khích rõ ràng đối với các nguồn phát thải khác, tuy nhiên, việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế sẽ làm tăng phát thải cácbon. Ví dụ, sự mở rộng của sân bay Changi làm tăng số lượng hành khách từ 8,1 triệu người năm 1981 lên 15,6 triệu người năm 1990 và 32,4 triệu người năm 2005. Theo bản tóm tắt về phát thải khí nhà kính quốc gia của Singapore, phát thải từ giao thông hàng không rõ ràng đang thải vào khí quyển một lượng lớn khí thải. Lọc dầu và phát triển ngành công nghiệp hoá dầu được chính sách của Chính phủ khuyến khích. Tuy nhiên, lọc dầu là ngành phát thải đáng kể khí nhà kính, ảnh hưởng lớn đến lượng phát thải trong lĩnh vực công nghiệp của Singapore. Trong năm 1994, nhà máy lọc dầu và các ngành công nghiệp hoá dầu chiếm 26% tổng phát thải trên toàn quốc. Phát thải của Singapore chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng phát thải toàn cầu. Tuy nhiên, có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng, làm tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển. Thứ nhất là tỷ lệ phát thải bình quân của Singapore cao hơn nhiều so với các nước trong “Phụ lục 1” đã cam kết giảm phát thải. Thứ 2, sự giàu có và thành công của Singapore là nhờ quá trình phát thải, giúp Singapore trở thành đất nước kiểu mẫu thu hút nhiều nước trong khu vực. Trong khi Singapore có thu nhập đầu người tăng rất cao, nếu châu Á phát triển theo mô hình hiện nay của Singapore về phát thải bình quân, thì thế giới sẽ mất cơ hội ngăn ngừa tình trạng biến đổi khí hậu thảm khốc. Singapore có thể góp phần làm giảm tình trạng biến đổi khí hậu theo nhiều cách khác nhau, thông qua phát triển và phổ biến các công nghệ mới như các tuyên bố chính thức. Tuy nhiên, Singapore từ chối cắt giảm phát thải trên đầu người sau khi khuyến khích các ngành công nghiệp và công nghệ năng lượng sạch của Singapore theo đuổi trên cơ sở thương mại với triển vọng tạo nhiều việc làm và lợi nhuận lâu dài. Vì các “hoàn cảnh đặc thù” - diện tích nhỏ, cảnh quan đô thị và nền kinh tế công nghiệp hoá – Singapore không thể cắt giảm phát thải. Điều này phù hợp với kết quả khảo sát, nếu theo 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc tăng hoặc giảm phát thải của Singapore cho thấy tăng, giảm phát thải không rõ ràng. 1. Dân số Dân số của Singapore tăng lên đáng kể do chính sách khuyến khích sinh đẻ của Chính phủ. Khi dân số tăng thì phát thải cũng tăng. 2. Tăng trưởng kinh tế Phát thải là kết quả của hoạt động kinh tế, có xu hướng gia tăng cùng với phát triển kinh tế. Singapore không thể từ bỏ cơ hội để tăng tối đa tốc độ tăng trưởng GDP. Năm 2007, GDP bình quân ở Singapore là 67.500 đôla Singapore (tương đương với 52.000 USD). Mặc dù là một nước giàu có nhưng Singapore cần phải xem xét việc phân phối GDP và chất lượng tăng trưởng theo tỷ lệ tăng trưởng chung. 3. Mức sử dụng năng lượng của nền kinh tế Mức sử dụng năng lượng của nền kinh tế dựa vào hiệu suất năng lượng truyền thống - số năng lượng được tiêu thụ trong sản xuất kinh tế và cuộc sống hàng ngày. Hiệu suất năng lượng được Chính phủ Singapore khuyến khích vì những lý do lợi nhuận. • Đặt ra các tiêu chuẩn về nhà ở chặt chẽ hơn để giảm sử dụng điều hoà nhiệt độ, thiết kế các toà nhà có nhiều bóng râm và thoáng khí. Trong 5 năm gần đây, ở Singapore xây dựng nhiều nhà ở có tường kính, sử dụng điều hoà nhiệt độ hiệu suất năng lượng, tuy nhiên, Singapore nên xây dựng kiểu nhà không cần sử dụng điều hoà nhiệt độ. • Chính sách có thể làm giảm tình trạng phá nhà hiện nay. Tổng phát thải từ ngành công nghiệp xây dựng rất cao, như sản xuất xi măng là ngành công nghiệp gây ô nhiễm khí nhà kính cao nhất. Do đó, xây dựng lại là mục tiêu lớn nhằm làm giảm tác động môi trường của việc xây dựng nhà ở cho dân cư. • Cơ sở hạ tầng giao thông có thể khuyến khích hơn nữa người dân đi xe đạp và tham gia phương tiện giao thông công cộng. Rõ ràng, càng có nhiều đường giao thông được xây dựng và mở rộng thì lượng ô tô tham gia giao thông càng tăng cao. Cũng như, trên một quãng đường, nếu đi bằng ô tô riêng hoặc taxi sẽ nhanh hơn so với phương tiện giao thông công cộng, do đó có thể tiết kiệm được thời gian. Đối với phương tiện xe đạp, hiện nay còn thiếu các làn đường dành riêng cho xe đạp, thiếu bãi đỗ xe và không có các phương tiện chỉ dẫn bắt buộc ở những nơi làm việc. • Giấy phép qua hệ thống đánh giá điện tử (COE) và thuế dành cho các loại ôtô cỡ lớn nhằm khuyến khích loại ô tô sử dụng hiệu quả nhiên liệu. Trong những năm gần đây, đôi khi sự chênh lệch về giá của COE làm cho những chiếc ôtô lớn được ưa thích hơn. 4. Lượng CO2 trong ngành năng lượng Không phải tất cả các nguồn năng lượng đều phát thải lượng khí nhà kính như nhau. Singapore chuyển sang sản xuất năng lượng từ khí, những lựa chọn nhằm làm giảm lượng cácbon điôxít như sử dụng các nhiên liệu thay thế không phải nhiên liệu hoá thạch bao gồm năng lượng mặt trời. Để ngăn ngừa tình trạng biến đổi khí hậu được dự đoán trong tương lai đòi hỏi cần phải cắt giảm lượng phát thải toàn cầu trong 10 năm tới. Trong khi đóng góp của Singapore đối với phát thải toàn cầu là rất nhỏ, nhưng đây là một nước giàu có với phát thải bình quân cao và đường phát thải gia tăng và cũng không cam kết cắt giảm phát thải trong các cuộc đàm phán quốc tế. Singapore là một trong những nước đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tình trạng biến đổi khí hậu của thế giới. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ trở thành nước phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới, tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn phải có trách nhiệm lớn đối với phát thải khí nhà kính và phát thải trên đầu người cao trong lịch sử. Tuy nhiên biến đổi khí là vấn đề toàn cầu, vì vậy đòi hỏi tất cả các quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện những cam kết nhằm giảm tình trạng biến đổi khí hậu. Nguồn: innovationmagazine.com, 11/2009 |
||
