Giảm thiểu biến đổi khí hậu nhờ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 23/Năng lượng và môi trường |
| Đề mục | : | 87.15 Ô nhiễm môi truờng. Kiểm soát ô nhiễm |
| Từ khoá | : | Năng lượng ; Sử dụng ; Biến đổi khí hậu |
| Nội dung: | ||
|
Hiện nay, để tạo ra 1.000 USD GDP, Việt Nam phải tiêu tốn 500 kg dầu tương đương; con số này cao gấp 2 lần so với Thái Lan và gấp 5 lần so với Nhật Bản. Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2, đến năm 2004 lượng phát thải là 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần; bình quân đầu người là 1,2 tấn một năm (trung bình thế giới là 4,5 tấn/năm). Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của nước ta sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020.
Theo các kịch bản BĐKH ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm tăng thêm 20C vào năm 2050 và 2,50C năm 2070 so với trung bình thời kỳ 1961 - 1990. Hiện tượng El Nino có thể xảy ra thường xuyên hơn và thời gian kéo dài hơn, gây ra những tổn thất lớn về người và tài sản và làm cho công tác dự báo, phòng tránh trở nên phức tạp và khó khăn. Nếu mực nước biển dâng cao 1 m thì khoảng 500.000 ha ở châu thổ sông Hồng và 1.500.000 - 2.00.000 ha ở đồng bằng sông Cửu Long cùng khoảng 400.000 ha rừng ngập mặn ở phía Nam bị ngập; xâm nhập mặn sẽ tác động tới 2.200.000 - 2.500.000 ha diện tích đất còn lại. Biện pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính tập trung trong chiến lược phát triển và sử dụng năng lượng của Việt Nam hiện nay là: sử dụng năng lượng và tài nguyên năng lượng hiệu quả, hợp lý; khai thác tối đa thủy điện; phát triển các dạng năng lượng mới (địa nhiệt, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, …) Nhật Bản là quốc gia chủ nhà có đóng góp lớn trong việc hình thành Nghị định thư Kyoto về BĐKH nên luôn khẳng định vai trò đi đầu của mình trong việc cắt giảm khí thải cacbon. Từ 30 năm nay, Chính phủ hỗ trợ 1/3 kinh phí cho việc lắp đặt các hệ thống quản lý mới trong tòa nhà, đã giảm khoảng 20% khí thải CO2. Tại Đan Mạch, người dân được quyền bán lại tiêu chuẩn năng lượng sử dụng không hết của mình. Vì vậy, việc tiêu thụ năng lượng ở Đan Mạch là tương đối ổn định từ 30 năm nay trong khi tổng sản phẩm quốc nội đã tăng gần gấp đôi. Trung bình mỗi người Đan Mạch dùng 6.600 kWh điện/năm (ở Mỹ là 13.300kWh/năm). Ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất - kinh doanh, trong đó tập trung vào 5 ngành công nghiệp: gốm sứ, gạch, giấy và bột giấy, dệt may và chế biến thực phẩm. Qua các nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ, khả năng tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp gốm có thể lên đến 35%, dệt may 30%, chế biến thực phẩm 20%... Luật về năng lượng của Nhật, Ôxtrâylia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan đều nhấn mạnh vào các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho các ngành sản xuất chiếm từ 25 - 40% tổng năng lượng tiêu dùng và đều đề cập đến những nội dung chính sau: - Lĩnh vực được điều chỉnh là : máy móc thiết bị công nghiệp và nhà máy, giao thông vận tải, công trình công cộng, tòa nhà, năng lượng tái tạo. - Nguồn năng lượng được yêu cầu sử dụng tiết kiệm là than, dầu thô, khí tự nhiên, điện, than cốc, khí than, nhiệt điện, các sản phẩm dầu, khí hóa lỏng, sinh khối và các nguồn khác có khả năng cung cấp năng lượng; - Mỗi luật đều trực tiếp hoặc gián tiếp nêu lên vai trò của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm nhằm giảm thiểu phát sinh khí cácbon, khí gây hiệu ứng nhà kính. Một số quốc gia nhập khẩu năng lượng thường đặt mục đích, yêu cầu đối với việc tiết kiệm ở thiết bị, phương tiện, nơi sử dụng; trong khi những quốc gia xuất khẩu năng lượng đặt yêu cầu và đưa ra biện pháp tiết kiệm năng lượng ngay từ khâu khai thác, sản xuất… Xây dựng thể chế về phát triển năng lượng trong hoàn cảnh ứng phó với BĐKH Về quan điểm, Luật nên đưa ra những cơ sở, nguyên tắc tạo hành lang pháp lý cụ thể: Đề ra những chỉ tiêu tiết kiệm năng lượng mang tính bắt buộc; Đánh giá lợi ích, chi phí môi trường các dự án sử dụng nhiều năng lượng; Khuyến khích nghiên cứu và phát triển các dạng năng lượng khác nhau, đặc biệt là các nguồn năng lượng tái tạo; Tiến tới xây dựng một thị trường năng lượng để người sử dụng năng lượng có thể bán (hoặc mua) số tiêu chuẩn năng lượng mà không dùng hết theo định mức; Xác định mức phát thải cho các thiết bị, nơi sử dụng năng lượng trọng điểm. Để có thể phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả, các quy định pháp lý để khuyến khích phải cụ thể, từ khâu nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng trên diện rộng công nghệ là quan trọng. Các chính sách về thuế, đất đai và cơ chế cho phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo nên được đề cập cụ thể. Theo quan điểm này, các nội dung sau cần được thể chế hóa trong Luật: - Các loại hình nghiên cứu công nghệ cần được ưu tiên: nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu tạo ra công nghệ thay thế công nghệ nhập từ nước ngoài. - Quy định rõ Bộ chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng Danh mục công nghệ cụ thể để phát triển và sử dụng hiệu quả các dạng năng lượng theo các cấp độ, quy mô khác nhau. - Biện pháp thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo được khuyến khích bằng các hình thức: hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với tổ chức, cá nhân nghiên cứu và phát triển công nghệ; được xem xét hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí từ kinh phí của Quỹ tiết kiệm năng lượng, nguồn kinh phí khác dành cho nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực công nghệ, chuyển giao công nghệ. - Thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo được khuyến khích bằng các hình thức: Nhà nước dành kinh phí để nhập khẩu một số công nghệ, máy móc, thiết bị… mà trong nước chưa sản xuất được; hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ. - Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ nêu trên được ưu đãi, hỗ trợ như sau: hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; được xem xét hỗ trợ kinh phí từ Quỹ tiết kiệm năng lượng; và được hưởng các ưu đãi khác của pháp luật. Nguồn: Tạp chí Môi trường, số 4- 2009 |
||
