Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2009 » Số 22 » Quản lý môi trường » Nghiên cứu đánh gía ô nhiễm phú dưỡng nước mặt ở một số kênh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu đánh gía ô nhiễm phú dưỡng nước mặt ở một số kênh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2009/Số 22/Quản lý môi trường
Đề mục : 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương
Từ khoá : Đánh giá Ô nhiễm Phú dưỡng Nước mặt
Nội dung:
Chất lượng nguồn nước luôn có ý nghĩa quan trọng, đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản và trong đời sống hàng ngày của dân cư. Vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng đất nằm giữa sông Tiền, sông Hậu nói riêng tuy chỉ chiếm 30% diện tích đất nông nghiệp nhưng hàng năm đã đóng góp cho cả nướng hơn 50% sản lượng lúa, khoảng 92% kim ngạch xuất khẩu gạo, hơn 60% giá trị thủy sản xuất khẩu, đồng thời tiêu thụ khoảng 400.000 tấn N, 120.000 tấn P2O5, 120.000 tấn K2O. Trong đó, 60% lượng phân này mất đi do bốc hơi, thẩm thấu, rửa trôi, ảnh hưởng lớn đến môi trường, đến chất lượng nguồn nước mặt.

Đề đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai đề tài “ Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm phú dưỡng nước mặt của một số tuyến kênh nối sông Tiền, sông Hậu thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang”. Đề tài được tiến hành từ tháng 5/2008 đến 3/2009 theo phương pháp thu thập số liệu, lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu

Các tuyến kênh được nghiên cứu là: Nha Mân Tư Tải tại vị trí vàm Chợ Bà đổ ra sông Hậu, kênh Cần Thơ Huyện Hàm, Nguyễn Văn Tiếp B. Mỗi tuyến kênh có chiều rộng trung bình 50m, sâu 2-3m, dài khoảng 26km phục vụ tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt cho trên 27.000ha tự nhiên và 23000ha đất nông nghiệp, chủ yếu là lúa 3 vụ và vườn cây ăn trái.
Nghiên cứu tập trung vào các chỉ số pH, nhiệt độ, DO, BOD, COD so sánh với quy chuẩn Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT, tiêu chí đánh giá bảo vệ đời sống thủy sinh cho hệ thống sông Mêkông của Ủy ban sông Mêkông (MRC), tiêu chí đánh giá phân loại nước mặt phú dưỡng của OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế châu Âu).

Kết quả nghiên cứu

Chất lượng nước mặt trên 3 tuyến kênh khảo sát có các chỉ số pH, nhiệt độ, DO, BOD, COD đạt tiêu chuẩn loại A1, A2 theo QCVN. Nồng độ amoni trên kênh Nha Mân Tư Tải và trên kênh Cần Thơ Huyện Hàm đạt yêu cầu chất lượng nước loại B2. Nồng độ trung bình amoni 0,192ppm, nitrit 0,01ppm trên kênh Nguyễn Văn Tiếp B phù hợp với QCVN mức A2.

Chỉ số Fe-ts cao vượt từ 1,8 đến 18 lần QCVN đối với các nguồn nước A1, A2, B1, B2. Với điều kiện pH thấp và nồng độ Fe-ts cao hơn, môi trường nước vùng phèn của kênh Nguyễn Văn Tiếp B có thể không tạo môi trường hoạt động tốt cho vi sinh vật trong các hoạt động khoáng hóa chất hữu cơ, chuyển hóa nhanh nitrit thành nitrat. Đồng thời, sự có mặt nồng độ sắt cao, đã cố định lượng photpho trong nước, kiềm giữ đất và bùn đáy dẫn đến nồng độ Nts, Pts trong nước thấp hơn so với kênh Nha Mân Tư Tải và Cần Thơ Huyện Hàm.

Kênh Cần Thơ Huyện Hàm có Nts 5,41 ppm, Pts 1,34 ppm, Nha Mân Tư Tải Nts 0,656ppm, Pts 0,035 ppm. Theo tiêu chí về Nts, Pts, NH4+, NO2- của Ủy ban sông Mekong 2006 để đánh giá sự thích hợp đối với thủy sinh và tiêu chí của OECD về đánh giá mức độ phú dưỡng nguồn nước, các chỉ số này của nước mặt trên kênh Cần Thơ Huyện Hàm, Nha Mân Tư Tải không thích hợp cho đời sống thủy sinh và bị phú dưỡng ở mức cao (Eutrophic).

Từ kết quả trên, chúng ta nhận thấy cần kịp thời bảo vệ và khai thác có hiệu quả tài nguyên nước. Đồng thời thực hiện chương trình giảm thiếu sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản toàn vùng.

Nguồn: Tạp chí NN&PTNT, 8/2009
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia