Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Mô hình xử lý rác thải hữu cơ theo quy mô nhỏ

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2009/Số 22/Công nghệ Môi trường
Đề mục : 87.53 Chất thải. Quản lý và sử dụng chất thải, công nghệ ít chất thải và không chất thải
Từ khoá : Mô hình Xử lý Chất thải hữu cơ
Nội dung:
Theo hướng lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp, dễ làm, có hiệu quả kinh tế và đảm bảo vệ sinh môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế đã thực hiện Đề tài “Ứng dụng công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt quy mô nhỏ ở Thừa Thiên Huế” giúp nâng cao ý thứ bảo vệ môi trường của người dân, phù hợp với mô hình kinh tế của nhiều địa phương.

Đề tài được thực hiện tại xã Phú Xuân, thành phố Huế với dân số trên toàn xã là 8.097 người, chỉ số phát thải trung bình là 0,6 kg/người/ngày, tổng lượng rác thải ở Phú Xuân có thể tới 4 tấn/ngày. Toàn huyện Phú Vang trung bình lượng rác thải lên tới 8,24 tấn và đạt khoảng gần 3 tấn/năm. Ngoài ra, còn nhiều nguồn ô nhiễm khác cũng tác động đến môi trường chung trong huyện như rác thải y tế, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp.

Đề án được xây dựng theo mô hình với 5 bước chính:

Bước 1: Tập kết khử mùi rác, định mức sử dụng chế phẩm khử mùi hôi của rác.

Bước 2: Phân loại tiền xử lý

Bước 3: Ủ kỵ khí

Rác thải sau khi phân loại sẽ được đưa vào bể chứa, điều chỉnh độ ẩm của rác. Độ ẩm thích hợp nhất của rác để phân huỷ là 50-70%. Sau đó thực hiện theo quy trình:
Cứ 20-30cm rác thải phủ một lớp mỏng phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, mùn cưa, lá cây khô hoặc phân động vật……)

Bước 4: Ủ hiếu khí

Rác sau quá trình ủ kỵ khí tại bể thứ nhất, sẽ được đảo trộn ở ngoài, chuyển sang bể hiếu khí tại bể thứ 2, phun chế phẩm bổ sung sau đó đưa vào bể tiến hành ủ hiếu khí. Trước khi ủ hiếu khí cần kiểm tra độ ẩm của rác. Nếu rác quá khô cần bổ sung nước từ bình phun. Giới hạn dưới của hàm ẩm thích hợp là 35-40%, giới hạn trên là 60-70%.
Thông thường, nhiệt độ của rác trong bể tăng lên, sau một tuần đạt tới 50-60oC. Nếu không được đảo trộn, nhiệt độ của đống ủ tiếp tục tăng (70-80oC) làm chết phần lớn vi sinh vật, kéo dài quá trình phân huỷ. Vì thế, việc đảo trộn định kỳ để khống chế nhiệt độ đống ủ là quan trọng. Mật độ đảo là 7- 10 ngày/lần và phun bổ sung chế phẩm kích thích phân huỷ.

Độ pH ban đầu thích hợp của đống ủ là 5-7. Sau một thời gian, pH sẽ giảm xuống do sự tạo thành axit hữu cơ. Nếu pH giảm mạnh cần bổ sung vôi hoặc đất.

Phân loại: Sau quá trình ủ hiếu khí, rác đã qua giai đoạn ủ chín, được làm thoáng cho nguội nhiệt độ môi trường và phân loại kỹ. Chât trơ có thể sử dụng tái chế và chôn lấp. Phần hữu cơ được đưa vào máy nghiền.

Bước 5: Nghiền rác

Phần hữu cơ đưa vào máy nghiền thành bột nhỏ, mịn <0,1- 0,3mm.

Với nguyên vật liệu 1µ chế phẩm chống hôi, chế phẩm sinh hoá, chế phẩm kích hoạt phân huỷ kết hợp với tỷ lệ phụ gia hợp lý. Chất lượng phân mùn có độ mịn cao, tốc độ phân huỷ nhanh, thời gian p hân huỷ rút ngắn, hàm lượng mùn đạt khoảng 96-97%.

Nếu có sự tham gia của thành phần đất ướt hoặc đất bùn trong quá trình ủ sinh học sẽ cho sản phẩm chất lượng mùn tốt do đất có tác dụng nhất định trong quá trình phân huỷ hữu cơ. Đất giúp che phủ làm giảm sự thoát khí khó chịu ra môi trường, giảm sự tiếp xúc giữa đống ủ với không khí để giúp quá trình hoạt động của vi sinh vật kỵ khí. Ngoài ra, trong thành phần của đất còn có một số yếu tố xúc tác quan trọng cho quá trình phân huỷ, bổ sung một lượng vi sinh vật phân huỷ sẵn có trong đất vào đống ủ.

Nếu mô hình trên được ứng dụng nhân rộng, lượng rác thải sẽ giảm, kích thích gián tiếp nhu cầu thu gom rác và dần dần sẽ nâng cao tỷ lệ thu gom, ngăn chặn được các dịch bệnh phát sinh, lan truyền từ rác thải, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, tạo ra môi trường trong sạch cho khu vực.

Nguồn: KH&PT, số 45, 11/2009
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia