Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2009 » Số 20 » Quản lý môi trường » Xây dựng thành công bản đồ tự nhiên môi trường vùng biển

Xây dựng thành công bản đồ tự nhiên môi trường vùng biển

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2009/Số 20/Quản lý môi trường
Đề mục : 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường
Từ khoá : Xây dựng Bản đồ Tự nhiên Môi trường Biển
Nội dung:
GS-TS Bùi Công Quế, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Địa cầu thuộc Viện Khoa học&Công nghệ Việt Nam cùng các cộng sự ở 12 cơ quan nghiên cứu khoa học Việt Nam lần đầu tiên xây dựng thành công 70 bản đồ tự nhiên môi trường vùng biển. Tất cả các bản đồ được xử lý liên kết trên bản đồ nền chuẩn quốc tế WGS. Với số nhiều số liệu mới được bổ sung, hoàn thiện và số hoá theo công nghệ GIS với các phần mềm tiên tiến.

Đây là một đề tài nghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu biển cấp nhà nước. đề tài này (KC-09-02) được thực hiện trong giai đoạn 2001-2005, có nhiệm vụ thu thập bổ sung, cập nhật và xử lý các kết quả điều tra khảo sát mới hiện có về các lĩnh vực để tiếp tục mở rộng phạm vi thể hiện và nâng cao chất lượng các bản đồ, sơ đồ để đưa về một bản đồ nền và phạm phi thể hiện thống nhất, xác định và thể hiện ở tỷ lệ chung và đồng nhất cho các bản đồ trong từng lĩnh vực.

Về hình thức thể hiện các bản đồ cũng được phát triển và nâng cao trên cơ sở sử dụng các kỹ thuật và công nghệ lập bản đồ mới như hệ thống thông tin địa lý, số hoá và có thể chuyển đổi giữa các hệ trắc địa khác nhau.

70 bản đồ được chia làm bốn nhóm, trong đó có nhóm bản đồ địa chất-địa vật lý, tỷ lệ 1:1.000.000 gồm tám bản đồ; Nhóm bản đồ khí tượng- khí hậu biển, tỷ lệ 1:2.000.000 gồm 12 bản đồ; Nhóm bản đồ nhiệt-muối và động lực biển, tỷ lệ 1:4.000.000 gồm 24 bản đồ; Nhóm bản đồ sinh thái-môi trường biển, tỷ lệ 1:4.000.000 gồm 26 bản đồ.

Nhiều đặc trưng về điều kiện tự nhiên và môi trường lần đầu tiên được tính toán và thể hiện đồng nhất trên phạm vi mở rộng ở vùng biển và thềm lục địa Việt Nam như các hệ thống địa động lực hiện đại, các vùng phát sinh động đất, các đặc trưng khí tượng như gió, tầm nhìn xa và sương mù, các đặc trưng động lực như độ cao lớn nhất và năng lượng sóng biển, các đặc điểm về môi trường như chất dinh dưỡng, hàm lượng ô nhiễm các kim loại, phân bố vật lơ lửng.

Ở các tỷ lệ 1:1.000.000 và nhỏ hơn, các bản đồ đều ở mức khác nhau thể hiện rõ những quy luật biến đổi chung, có tính khu vực của các yếu tố điều kiện tự nhiên và môi trường trong vùng biển Việt Nam.

Đặc điểm cấu trúc khu vực của các trường địa vật lý, các ranh giới sâu, các thành tạo trầm tích đệ tam và đệ tứ, các hệ thống địa động lực hiện đại và tính địa chấn trong vỏ trái đất.

Các khí tượng, các yếu tố nhiễm muối, các hoàn lưu trên vùng biển đều biểu hiện các đặc điểm biến đổi theo mùa, theo không gian cả về bề mặt lẫn về chiều sâu theo phương thẳng đứng.

Lần đầu tiên, toàn bộ 70 bản đồ đều thể hiện mức độ điều tra chi tiết và đều được xây dựng bằng công nghệ hệ thông tin địa lý, được số hoá tạo điều kiện dễ dàng, thuận lợi cho các bước bổ sung, cập nhật mỗi khi có thêm nguồn số liệu thực tế, có thể dễ dàng in ra ở bất kỳ tỷ lệ nào theo yêu cầu sử dụng và dễ dàng liên kết, tổng hợp các đặc trưng định lượng và các lớp thông tin từ các bản đồ khác nhau.

Do sự phân bố rất không đồng đều của các số liệu khảo sát hiện có đến nay trên toàn phạm vi rộng lớn của các tờ bản đồ, độ tin cậy trên mỗi bản đồ có khác nhau trên các vùng.
Nhìn chung có thể thấy rõ thực tế độ tin cậy và đồng nhất cao đạt được ở vùng ven bờ và trên hầu hết thềm lục địa. ở các vùng Trường Sa, Hoàng Sa và trung tâm Biển Đông và các vùng khác ngoài thềm lục địa Việt Nam độ tin cậy và mức độ chi tiết kém hơn.

Do đó trong nhóm bản đồ địa chất - địa vật lý do yêu cầu phải tổng hợp từ nhiều yếu tố, các bản đồ cấu trúc sâu và phân vùng động đất và cấu trúc các bể đệ tam phù hợp hơn với mức chi tiết ở tỷ lệ 1:2.000.000 hoặc 1:1500.000 mà giá trị sử dụng vẫn không kém hơn so với tỷ lệ 1:1000.000 các bản đồ trong nhóm khí hậu khí tượng thể hiện sự biến đổi theo bề mặt một cách bình ổn và tương đối nhẹ do đó thích hợp hơn nếu để ở tỷ lệ 1:4000.000 tương tự và phù hợp với các bản đồ trong nhóm thuỷ nhiệt và động lực (cũng tỷ lệ 1:4000.000).

Hầu hết các bản đồ về các điều kiện tự nhiên và môi trường như nhóm bàn đồ địa chất-địa vật lý, nhóm bản đồ khí tượng, thuỷ văn và động lực biển lần đầu tiên được bổ sung cập nhật tối đa các dữ liệu, số liệu mới và mở rộng phạm vi thể hiện ra các vùng trên thềm lục địa Việt Nam và các vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tạo ra khả năng và giá trị sử dụng rộng rãi đồng thời thể hiện rõ được chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Đối với Việt Nam, việc có được tập bản đồ biển lần này là một nỗ lực để không chậm hơn so với các nước tỏng khu vực. Nhưng vì vùng biển của Việt Nam rất lớn (lớn gấp ba lần lãnh thổ trên đất liền) do đó phải thường trực tăng cường điều tra, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện và mở rộng, tăng số lượng, chất lượng tập bản đồ biển trong thời gian tới.

Nguồn: Moitruong.com, 21/10/2009
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia