Những nguy cơ sân golf tác động đến môi trường tại Việt Nam |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 19/Quản lý môi trường |
| Đề mục | : | 87.51 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở từng khu vực và từng nước |
| Từ khoá | : | sân golf ; Đánh gia tác động đến môi trường |
| Nội dung: | ||
|
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), cả nước hiện có khoảng 144 dự án sân golf tại 39 tỉnh, thành có mục đích kinh doanh sân golf đã được cấp phép hoặc chủ trương cho phép nghiên cứu thực hiện dự án. Trong đó, kinh doanh golf thuần túy chỉ có khoảng 20 dự án, còn lại là kết hợp kinh doanh golf với kinh doanh bất động sản và du lịch.
Theo chủ trương của Chính phủ, sân golf được cấp phép phải tuân thủ nguyên tắc là không lấy đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa. Trên thế giới và các nước châu Á, sân golf thường chỉ xây dựng ở những nơi đất không canh tác được, đồi núi, thậm chí trong sa mạc. Tuy nhiên, hầu hết các sân golf được quy hoạch và cấp phép triển khai tại Việt Nam đều nằm trên các vùng đất tương đối bằng phẳng, có sẵn cảnh quan thiên nhiên lý tưởng, các điều kiện giao thông thuận lợi nên nguy cơ chiếm dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp là rất cao. Việc ồ ạt triển khai các dự án sân golf tại Việt Nam một cách thiếu quy hoạch tổng thể, thiếu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đang gây nên sự lãng phí tài nguyên đất. Trong khi đó giá đất đền bù cho người dân quá thấp làm thất thoát đáng kể nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Hoạt động tại các sân golf là hoạt động nhân sinh nên nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên là không thể tránh khỏi. Ba loại chất hóa học mà chủ sân golf dùng để giữ màu xanh, phục hồi bề mặt sân cỏ chỉ trong 24 giờ là: Chlopyrifos, Diazinon, Isazofos đều nằm trong danh mục hóa chất nhạy cảm với môi trường và sức khỏe con người ở nhiều quốc gia và được khuyến cáo hạn chế sử dụng. Một sân golf 18 lỗ sử dụng trung bình 1,5 tấn hóa chất/năm (cao gấp 3 lần so với cùng diện tích đất nông nghiệp), trong đó có axit sillic, ôxit nhôm và ôxit sắt (các tác nhân có tiềm năng gây ung thư). Chất xúc tác làm cứng đất để gia cố nền và bờ các hồ nhân tạo ở sân golf có sử dụng Acrylamide, một chất cực độc đối với sinh vật và con người. Tất cả các loại hóa chất này có thể ngấm xuống đất, nước ngầm, chảy tràn khi mưa hoặc ô nhiễm vùng đất nước mặt lân cận khiến người dùng nước, nông sản có thể bị nhiễm độc, rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. Khi phun hóa chất vào các thảm cỏ sân golf, một phần chúng phát tán vào không khí làm ô nhiễm không khí, tác động trực tiếp đến người chơi golf và công nhân làm việc trên sân golf. Ngoài đất nông nghiệp, đất rừng cũng có nguy cơ bị chiếm dụng rất cao vì sân golf tập trung tại các khu vực thuận tiện giao thông, cảnh quan đẹp, chủ động tưới nước. Việc tạo ra các thảm cỏ nhân tạo, các hồ chứa trên các dạng địa hình khác nhau tạo nên nguy cơ xói mòn, lở đất cao. Độ dốc tự nhiên cùng mực nước ngầm sẽ bị thay đổi và hậu quả là nền đất sẽ bị suy yếu, dễ bị hủy hoại bởi mưa gió và động đất. Chế độ canh tác cỏ tại các sân golf là chế độ độc canh có sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng nên khả năng đất bị thoái hóa và ô nhiễm là rất cao. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, các sân golf trên thế giới sử dụng gần 9,5 tỉ lít nước/ngày, lượng nước đủ cung cấp nước uống cho 4,7 tỉ người/ngày. Theo Bộ KH&ĐT, trung bình một sân golf 18 lỗ ở Việt Nam ngốn 5.000m3 nước mỗi ngày cho việc tưới, duy trì và bảo dưỡng mặt sân. Lượng nước này thường được khai thác từ nguồn nước ngầm nên qua thời gian, việc lún, sụt đất do nước ngầm bị lấy đi quá nhiều, mực nước ngầm sâu hơn là chuyện không tránh khỏi. Một thực trạng khác là phần lớn các dự án sân golf đã đi vào hoạt động không có khu vực xử lý nước thải riêng mà thải trực tiếp ra môi trường sau khi được xử lý sơ bộ tại hồ lắng nội bộ. Trong khi nhiều địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn đamg thiếu quỹ đất cho nhu cầu hạ tầng như: bệnh viện, chung cư, trường học,v.v… thì dự án sân golf tiêu tốn hàng trăm hecta đất, giá đền bù quá thấp, không giải quyết được việc làm cho người lao động, hiệu quả kinh tế không rõ ràng, gây nhiều bức xúc về kinh tế - xã hội, môi trường, vẫn tồn tại và được cấp phép tràn lan. Do đó, cần có những chính sách quản lý nghiêm ngặt hơn trong việc chuyển đổi tài nguyên đất sang sân golf, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên nước, kiểm soát chặt chẽ lượng hóa chất và phân bón sử dụng trong các sân golf, cần có những đánh giá cụ thể hơn về hiện trạng môi trường tại các sân golf đã hoạt động nhằm giảm thiểu để phát triển bền vững hơn loại hình thể thao giải trí này. Nguồn: T/C Tài nguyên và Môi trường, Số 16, 8/2009 |
||
