Trung Quốc phấn đấu phát triển theo hướng bền vững |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 19/Năng lượng và môi trường |
| Đề mục | : | 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Phát triển bền vững ; Năng lượng sạch ; Năng lượng tái tạo |
| Nội dung: | ||
|
Trung Quốc đã phải đối mặt với sự thay đổi liên tiếp của những thách thức hơn 50 năm qua: từ nghèo đói những năm 1950, suy thoái sinh thái của những năm 1970, ô nhiễm môi trường của những năm 1990 cho đến nóng lên toàn cầu trong thế kỷ này.
Trước khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc nằm trong tình trạng trong nghèo đói. Do vậy, phát triển nông nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu. Nhưng, đó chỉ là một phần thành công vì thực chất các công nghệ truyền thống không thể làm tăng năng suất nông nghiệp. Và suy thoái sinh thái cũng trở thành mối lo ngại lớn do phá rừng, chăn thả gia súc quá nhiều và rút nước ở các vùng đất ngập nước. Khi đó, phát triển công nghiệp thông qua các dự án cơ sở hạ tầng như dự án đập nước và các thiết bị tưới tiêu và dự án cung cấp các hoá chất nông nghiệp như phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, cũng được xem là một giải pháp để nâng cao năng suất nông nghiệp. Các giải pháp này rõ ràng đã giúp giải quyết vấn đề thiếu lương thực và suy thoái sinh thái. Kể từ giữa những năm 1980, nạn đói được xoá bỏ và độ che phủ rừng bắt đầu tăng. Phát triển công nghiệp quy mô lớn đã tạo được nhiều việc làm và nâng cao mức sống, nhưng lại làm nảy sinh những vấn đề mới, đó là chất lượng môi trường địa phương bị suy giảm mạnh, các sông và đất đang bị ô nhiễm. Ngoài ra, mưa axít đã đo được ỏ trên 1/3 diện tích Trung Quốc. Mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005) của Trung Quốc nhằm giảm 10% phát thải SO2, nhưng trên thực tế phát thải SO2 lại tăng 27%. Nếu Trung Quốc ngừng hoạt động tất cả các nguồn gây ô nhiễm, như vậy sẽ gây ra tình trạng thất nghiệp trong nước và khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới. Dĩ nhiên, phát triển vẫn phải tiếp tục nhưng theo hướng bền vững và chủ yếu là phải đầu tư cho cơ sở hạ tầng môi trường. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010), Trung Quốc đề ra mục tiêu môi trường tham vọng hơn nhằm giảm 10% chất ô nhiễm chủ yếu, đồng thời duy trì tốc độ tăng trường kinh tế trên 8%. Các thống kê gần đây cho thấy, Trung Quốc sẽ đạt các mục tiêu môi trường đề ra trong kế hoạch này. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu toàn cầu đang là một thách thức rất lớn nhiều vì phát triển hiện nay ở Trung Quốc gây phát thải cácbon ở mức cao. Tuy nhiên, phát triển bền vững hơn nhờ nâng cao hiệu suất năng lượng, phát triển các nguồn năng lượng không thải cácbon, tăng các bể chứa cácbon ở rừng và nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng thân thiện với khí hậu rất phù hợp với giảm thiểu biến đổi khí hậu. Trung Quốc đã đạt được bước tiến lớn trên tất cả các mặt. Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 đề ra mục tiêu giảm 20% tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP, mục tiêu mà không phải bất cứ quốc gia nào trên thế giới có thể đạt được. Năng lượng gió và năng lượng mặt trời ở nước này có tốc độ phát triển nhanh hơn hầu hết các nước khác. Trung Quốc cũng đã bắt đầu thực hiện một chương trình năng lượng hạt nhân đầy tham vọng. Các bộ luật về toà nhà mới yêu cầu phải đạt 60% hiệu suất năng lượng. Đầu tư mới dành cho các hệ thống giao thông công cộng, mạng lưới thông minh và sử dụng tài nguyên năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, phát thải khí nhà kính của Trung Quốc vẫn sẽ tăng trong thời gian tới và chưa có giải pháp trước mắt cho tình trạng này. Trung Quốc xác định đi theo con đường phát triển thải ít cácbon, nhưng liệu nước này có khả năng giảm phát thải mà không gây tác động tiêu cực đến mức sống lại là một vấn đề. Phát triển ở đây là đa chiều, bao gồm phát triển kinh tế, xã hội, công nghệ, nghiên cứu và các hoạt động của con người. Hợp tác quốc tế, một vấn đề toàn cầu sẽ là cần thiết để đảm bảo cho Trung Quốc chuyển đổi nhanh hơn sang phát triển ít cácbon. Các chính sách bảo tồn năng lượng của Trung Quốc 1. Đề ra các mục tiêu bảo tồn năng lượng và thực hiện các hành động bảo tồn năng lượng là một ưu tiên. Theo đánh giá của Trung Quốc, tăng trưởng bền vững sẽ đòi hỏi phải sử dụng nhiều năng lượng hơn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhiều nhà bình luận quốc tế nhận định, việc làm này sẽ có liên can mật thiết đến biến đổi khí hậu nếu Trung Quốc không cam kết hành động quyết liệt để giảm dấu chân cácbon của nước mình. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2005-2010), Trung Quốc cam kết sẽ tăng cường bảo tồn năng lượng nhờ sử dụng hiệu quả hơn năng lượng trong các quy trình công nghiệp và kinh tế nhằm giảm 20% tiêu thụ điện năng. Các chính sách thúc đẩy bảo tồn năng lượng của Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc coi bảo tồn năng lượng có tầm quan trọng to lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11 đã đặt ra mục tiêu giảm 20% tiêu thụ năng lượng trên 10.000 nhân dân tệ GDP từ năm 2005-2010. Để thể chế hoá các giải pháp bảo tồn năng lượng, Trung Quốc phải thực hiện các chính sách và giải pháp sau: Thứ nhất, bảo tồn năng lượng theo cơ cấu. Chính phủ ủng hộ tích cực các ngành công nghiệp tiêu thụ ít năng lượng, có giá trị gia tăng cao. Chính phủ cũng quy định cụ thể việc mở rộng các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, xoá bỏ các ngành công nghiệp không cần thiết, có công suất tiêu thụ năng lượng thấp hoặc các ngành công nghiệp phân phối hoặc sử dụng năng lượng không hiệu quả. Thứ hai là các giải pháp công nghệ: Trung Quốc đi đầu về hỗ trợ và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ tái tạo và tiết kiệm năng lượng. Chính phủ nước này có một phần trách nhiệm trong việc xác định lại đặc điểm của công nghệ và công nghiệp tương lai trong nền kinh tế. Trung Quốc, nước dẫn đầu về công nghệ xanh và vừa đảm bảo sẽ giảm dấu chân cácbon trung hạn và dài hạn. Như vậy, sẽ không gây ảnh hưởng đến việc đảm bảo an ninh năng lượng cũng như bảo tồn năng lượng theo hướng bền vững. Chính phủ Trung Quốc coi nghiên cứu và phát triển các công nghệ tiết kiệm năng lượng như một nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu và đầu tư nhiều hơn cho các công nghệ tiết kiệm năng lượng chủ đạo. Nội dung đề cập trong Dự thảo các chính sách về công nghệ tiết kiệm năng lượng của Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng và công nghiệp truyền thống nhờ các công nghệ mới và công nghệ cao; loại bỏ các công nghệ trình độ thấp đang “thịnh hành” nhưng lại không cần thiết trong hệ thống và thúc đẩy sử dụng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp và nền kinh tế hướng vào người tiêu dùng. Thứ ba là bảo tồn năng lượng bằng biện pháp quản lý: Hội đồng Quốc gia Trung Quốc thành lập một nhóm hướng dẫn giảm phát thải và bảo tồn năng lượng được giao các nhiệm vụ thực hiện các dự án tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp và doanh nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, cũng như tiến hành cấp chứng nhận và dán nhãn cho các sản phẩm tiết kiệm năng lượng. Bốn là, bảo tồn năng lượng bằng pháp luật. Chính phủ xây dựng và sửa đổi các tiêu chuẩn về hiệu suất năng lượng cho các thiết bị công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, các thiết bị điện gia dụng, thắp sáng, các thiết bị và xe gắn động cơ cũng như tiêu chuẩn thiết kế tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng. Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn bảo tồn năng lượng đang được áp dụng trong ngành công nghiệp và trong xã hội. Chính phủ cũng bổ sung các tiêu chuẩn bắt buộc về bảo tồn năng lượng về xây dựng. 2. Tập trung bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng sạch Ưu tiên bảo vệ môi trường và công nghệ xanh Chính phủ Trung Quốc chú ý nhiều hơn đến bảo vệ môi trường, nội dung cốt lõi của chính sách năng lượng quốc gia do tác động của việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch trên phạm vi toàn quốc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Là nước tiêu thụ nhiều than đá, Trung Quốc đang tích cực nghiên cứu, phát triển và áp dụng các công nghệ đốt than sạch nhằm giảm phát thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường. Một loạt các nhà máy nhiệt điện có công suất từ 600-1000 MW lần lượt đi vào vận hành trong những năm gần đây. Hiện nay, các nhà máy điện công suất từ 300-600 MW có hiệu suất và thông số theo tiêu chuẩn cao là các mô hình chính bắt buộc đối với các nhà máy nhiệt điện được xây mới. Những năm gần đây, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu nổi bật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng. Những giải pháp mới về hiệu suất năng lượng trong các nhà máy điện như bồ hóng, sản phẩm phụ của các nhà máy điện vẫn giữ ở mức của năm 1980 mặc dù công suất và khả năng phân phối nhiệt điện tăng mạnh. Trung Quốc cũng đã đưa ra quy định về năng lượng bền vững trong Luật năng lượng tái tạo và Kế hoạch phát triển Năng lượng tái tạo trung hạn và dài hạn, xác định cụ thể trọng tâm chiến lược và mục tiêu tổng thể nhằm lập ra và điều chỉnh chất lượng sử dụng năng lượng trong những năm tới. Ví dụ, vào năm 2010, khối lượng tiêu thụ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 10% tổng mức tiêu thụ năng lượng; đến năm 2020, con số này sẽ tăng 15%. Trung Quốc còn nghiên cứu các chính sách về định giá điện, thuế, đầu tư… để hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo. Do vậy, năng lượng tái tạo phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Uỷ ban Cải cách và Phát triển quốc gia đã tổ chức dự thảo Kế hoạch phát triển Năng lượng hạt nhân trung hạn và dài hạn (2005-2010) chuẩn bị kỹ càng cho việc thực hiện các chiến lược độc lập phát triển năng lượng hạt nhân, lập kế hoạch cho các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, lựa chọn và đề xuất các địa điểm xây dựng nhà máy, các hệ thống dịch vụ công nghệ và vận hành an toàn, đáp ứng các điều kiện về an toàn cho các dự án phát triển công nghệ năng lượng hạt nhân và chu trình nhiên liệu hạt nhân … 3. Xây dựng hệ thống pháp luật và cơ chế kinh tế thị trường toàn diện Trung Quốc đã ban hành các luật: Luật than đá, Luật điện lực và Luật Bảo tồn năng lượng để xác định rõ hơn các chính sách bảo tồn năng lượng và hỗ trợ tích cực đảm bảo cho các mục tiêu của chính sách được đưa ra đúng thời điểm và phù hợp với ngân sách. Các luật năng lượng này bổ sung cơ sở pháp lý thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc. Các luật này vẫn cần được sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của phát triển. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang soạn thảo luật Năng lượng, Luật dầu mỏ và khí cùng với các Quy định về Quản lý Khu dự trữ dầu mỏ quốc gia để dần dần xây dựng một hệ thống các Luật và các quy định về năng lượng phù hợp với hệ thống kinh tế thị trường. Trong 3 thập kỷ qua, Trung Quốc đã đạt được kết quả to lớn trong cải cách hệ thống năng lượng và bước đầu tạo lập được một cơ chế thị trường. Hiện nay, nội dung cải cách chủ yếu trong hệ thống năng lượng của Trung Quốc là đưa vào hệ thống cạnh tranh, hoàn thiện cơ chế định giá năng lượng, cuối cùng hình thành cơ chế định giá dựa vào các yếu tố như cung, cầu thị trường. Do thiếu tài nguyên nên hiệu lực pháp lý của việc định giá sẽ được thúc đẩy nhanh chóng. 4. Xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế để bảo vệ an ninh năng lượng trong nước Trung Quốc duy trì mối quan hệ thương mại song phương với các đối tác có nguồn năng lượng dồi dào để đảm bảo nguồn cung dầu mỏ và khí. Để giải quyết tình trạng thiếu tài nguyên năng lượng, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược “toàn cầu” cho ngành công nghiệp dầu lửa. Tuy nhiên, nguồn cung năng lượng của Trung Quốc chủ yếu phụ thuộc vào sự phát triển nguồn tài nguyên năng lượng trong nước. Trung Quốc cần dựa vào tài nguyên trong nước để xây dựng một hệ thống năng lượng ổn định, tiết kiệm và sạch và phải xem phát triển bền vững năng lượng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trung Quốc cũng coi hợp tác quốc tế về an ninh năng lượng có ý nghĩa to lớn. Trên nguyên tắc công bằng, lợi ích chung và trên tinh thần cùng có lợi của tất cả các bên liên quan, Trung Quốc tán thành việc tăng cường hợp tác giữa các nhà sản xuất năng lượng và người tiêu dùng với mục tiêu cùng nhau giữ vững an ninh năng lượng toàn cầu. Nguồn: Telegraph.co.uk, 10/2009 |
||
