Đầu tư theo cách thức của thiên nhiên để thu giữ cácbon |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 16/Môi trường toàn cầu |
| Đề mục | : | 87.17 Ô nhiễm khí quyển và bảo vệ khí quyển |
| Từ khoá | : | Đầu tư ; Thiên nhiên ; Bảo tồn ; Quản lý ; Rừng |
| Nội dung: | ||
|
Theo báo cáo mới của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), việc đẩy mạnh đầu tư cho công tác bảo tồn, phục hồi và quản lý rừng, các vùng đất than bùn và các hệ sinh thái quan trọng khác có thể làm giảm đáng kể hoặc ngăn ngừa phát thải khí nhà kính vào khí quyển.
Achim Steiner, Giám đốc điều hành UNEP cho biết, hàng chục tỷ USD đang được đầu tư để thu giữ cácbon ở các nhà máy điện thải CO2 được chôn dưới lòng đất hoặc dưới biển. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế chưa quan tâm đến biện pháp đã được chứng minh và thử nghiệm từ hàng Thiên niên kỷ nay, đó là sinh quyển. Theo một số đánh giá, với những tín hiệu tích cực của thị trường thì trong những thập kỷ tới, các hệ thống sống trên trái đất có khả năng thu hồi được hơn 50 tỷ tấn cácbon. Biện pháp này cũng nằm trong sáng kiến về Hệ thống kinh tế xanh của UNEP, không chỉ là đôla, euro, peso hoặc nhân dân tệ để chống biến đổi khí hậu mà biện pháp này còn có khả năng đem lại những lợi ích về kinh tế, môi trường và phát triển nhờ những nguồn cung cấp nước được cải thiện, qúa trình ổn định đất và giảm mất đa dạng sinh học, tạo việc làm xanh mới trong quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Báo cáo đánh giá nhanh của UNEP: “Ổn định thiên nhiên? Vai trò của các hệ sinh thái trong giảm thiểu biến đổi khí hậu” đã đưa ra những thông điệp quan trọng: • Việc thông qua khung chính sách hoàn chỉnh theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) để giải quyết vấn đề quản lý cácbon của hệ sinh thái sẽ là bước tiến rất quan trọng. • Quản lý cácbon trong các hệ thống sinh học có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đảm bảo an toàn cho các kho dự trữ cácbon hiện nay, giảm phát thải và tăng khả năng của các vùng tự nhiên, những khu vực nông nghiệp để loại bỏ cácbon khỏi khí quyển. • Các hệ thống ưu tiên gồm rừng nhiệt đới, vùng đất than bùn và vùng nông nghiệp. Việc giảm tỷ lệ chặt phá rừng xuống 50% vào năm 2050 và sau đó duy trì ở mức đó cho đến năm 2100 sẽ giảm trực tiếp 50 tỷ tấn cácbon trong thế kỷ này, tương đương với việc giảm 12% phát thải cần để duy trì nồng độ CO2 trong khí quyển dưới 450 ppm. • Tình trạng suy thoái các bãi than bùn góp phần làm tăng 0,8 tỷ tấn cácbon mỗi năm, có thể tránh được tình trạng này nhờ quá trình phục hồi. • Đến năm 2030, lĩnh vực nông nghiệp có thể thu hồi được 6 tỷ tấn CO2 tương đương với 2 tỷ tấn cácbon nếu các biện pháp quản lý bền vững được áp dụng rộng rãi. • Chính sách giảm biến đổi khí hậu cần được định hướng bởi ngành khoa học liên quan đến cácbon của hệ sinh thái và các quyết định nên được xây dựng bằng toàn bộ những chi phí và lợi ích trong quản lý cácbon. • Để đạt được mục tiêu của các chính sách đang triển khai là một thách thức: cần đảm bảo những người dân địa phương và người dân bản địa không bị thiệt thòi và xét tới khả năng đạt được từ những lợi ích về đa dạng sinh học và các dịch vụ của hệ sinh thái. • Đặc biệt những vùng đất khô cằn, tạo cơ hội kết hợp quản lý cácbon và phục hồi đất. Theo Barney Dickson và Kate Trumper thuộc Trung tâm quan trắc bảo tồn thế giới của UNEP, trong khi ngày càng cần nhiều nghiên cứu hơn về việc thu hồi toàn bộ cácbon và những cơ hội sinh kế từ các vùng đất khô cằn, thì khả năng sẽ dẫn tới một vụ nổ cácbon lớn. Diện tích thu hồi lớn có nghĩa là tổng lượng cácbon lớn và thường dẫn tới đất bị suy thoái, lượng cácbon vượt quá mức có thể làm tăng sản lượng nông nghiệp và tăng thu nhập tại một số khu vực nghèo nhất trên thế giới. Theo báo cáo, hiện nay các hoạt động của con người làm phát thải khoảng 10 tỷ tấn cácbon trên toàn toàn cầu. Nghiên cứu chỉ ra rằng, biện pháp bảo tồn có thể làm giảm 15% phát thải thông qua quản lý những thay đổi trong việc sử dụng đất và cácbon trong các hệ sinh thái. Rừng – Bể cácbon lớn nhất Các khu rừng nhiệt đới là nơi lưu giữ cácbon lớn nhất thế giới, mỗi năm hấp thu khoảng 1,3 tỷ tấn cácbon trên toàn cầu, tương đương với khoảng 15% tổng phát thải cácbon do những hoạt động của con người thải ra. Theo ước tính, tỷ lệ chặt phá rừng nhiệt đới trên toàn cầu hiện nay đang ở mức cao, khoảng 14,8 triệu ha/năm (bằng diện tích của Băng-la-đét), trong khi chặt phá rừng chiếm gần 1/5 phát thải khí nhà kính trên toàn cầu – nhiều hơn phát thải từ lĩnh vực giao thông. Việc phát quang các cánh rừng nhiệt đới có thể phát thải thêm 87-130 tỷ tấn cácbon vào năm 2100, tương đương với việc thải cácbon do đốt các nhiên liệu hoá thạch trên toàn cầu trong hơn 1 thập kỷ với mức như hiện nay. Việc giảm tỷ lệ chặt phá rừng xuông 50% vào năm 2050 và sau đó duy trì ở mức này cho đến năm 2100 sẽ làm giảm phát thải 50 tỷ tấn cácbon trong thập kỷ này. Những công nghệ đốn gỗ truyền thống sẽ đe dọa hoặc làm chết một lượng lớn thực vật còn lại trong quá trình thu hoạch, hậu quả làm mất đi một lượng cácbon lớn. Những công nghệ đốn gỗ tiên tiến có thể giảm 30% lượng cácbon bị mất so với những công nghệ truyền thống. Các cánh rừng trên toàn thế giới hoạt động như những bể cácbon lớn, theo ước tính, các cánh rừng ở Trung và Nam Mỹ có thể thu giữ khoảng 0,6 tỷ tấn cácbon, các cánh rừng ở châu Phi thu giữ khoảng 0,4 tỷ tấn và các cánh rừng ở châu Á thu giữ khoảng 0,25 tỷ tấn. Khả năng làm tăng qúa trình thu hồi và lưu giữ cácbon ở các cánh rừng phương Bắc – kéo dài từ Canada, Nga, Alaska và Scandinavia – là thấp. Tuy nhiên, chúng là nguồn cácbon lớn thứ 2 có thể thoát vào khí quyển do số vụ cháy ngày càng tăng, các bãi than bùn bị cạn nước, tình trạng đốn gỗ và khai thác rừng trái phép gia tăng. Trong những năm gần đây, rừng ôn đới ở châu Âu và Bắc Mỹ đang mở rộng – theo ước tính, rừng ở châu Âu đang thu giữ khoảng từ 7 đến 12% phát thải của châu Âu. Hơn nữa, việc quản lý và tái trồng rừng có thể làm tăng tỷ lệ này. Nông nghiệp góp phần trung hòa khí hậu vào năm 2030 Lĩnh vực nông nghiệp sẽ thực sự mang lại những lợi ích lớn nhất nếu các hoạt động quản lý tốt nhất được áp dụng rộng rãi - như tránh chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các chất dinh dưỡng có nguồn gốc tự nhiên như phân compost và phân bón • Đến năm 2030, có thể thu hồi được 6 tỷ tấn CO2 tương đương với 2 tỷ tấn cácbon mỗi năm so với mức phát thải hiện nay từ lĩnh vực nông nghiệp. • Nhiều hoạt động nông nghiệp lưu giữ nhiều cácbon hơn mà chi phí không tốn kém có thể thực hiện được phần lớn ở những nước đang phát triển, chiếm khoảng 70%. • Ở Trung Quốc, việc sử dụng toàn bộ rơm cho đất canh tác có thể thu hồi khoảng 5% phát thải cácbon do đốt nhiên liệu hóa thạch so với phát thải của năm 1990. • Nhiều vùng đất nông nghiệp nhiệt đới phải chịu sự suy giảm mạnh mẽ của các nguồn cácbon trong đất. Theo ước tính, một số loại đất trong các hệ nông nghiệp nhiệt đới bị mất từ 20 đến 80 tấn cácbon/ha, hầu hết thoát vào khí quyển. • Nông lâm nghiệp – nơi sản xuất lương thực được kết hợp với trồng cây – có nhiều khả năng thu hồi cácbon ở những vùng nhiệt đới. • Theo ước tính, ở những vùng bán khô hạn, lượng cácbon trung bình được lưu giữ bởi các hoạt động nông lâm nghiệp là khoảng 10 tấn/ha. Ở những vùng cận ẩm ướt là 20 tấn/ha, những vùng ẩm ướt là 50 tấn/ha. • Tỷ lệ thu hồi cácbon của các hệ nông lâm nghiệp quy mô nhỏ ở khu vực nhiệt đới khoảng 1,5-3,5 tấn cácbon/ha/năm. Vùng đất than bùn – nơi chứa nhiều cácbon Mặc dù, các vùng đất than bùn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trên bề mặt trái đất, nhưng lại là nơi lưu giữ cácbon hiệu quả nhất trong tất cả các hệ sinh thái. • Trung bình các vùng đất than bùn lưu giữ được khoảng 1450 tấn cácbon/ha • Hiện nay, khoảng 65 triệu ha đất than bùn trên thế giới bị suy thoái với lượng lớn cácbon đang bị mất do hậu quả của quá trình tiêu thoát nước, trong đó một nửa lượng thất thoát này xảy ra ở những vùng nhiệt đới. • Toàn bộ quá trình tiêu thoát nước của các vùng đất than bùn ở vùng nhiệt đới – chủ yếu trong sản xuất dầu cọ và gỗ cho sản xuất giấy – mỗi năm làm mất tới 0,8 tỷ tấn cácbon. Những vụ cháy bùn ở Đông Nam Á đã gây ra một nửa lượng phát thải này. • Trồng cây nhiên liệu sinh học trên các bãi than bùn đã bị khô cạn có thể không bù lại được lượng phát thải từ các khí nhà kính này. • Quá trình đốt dầu từ cây cọ được trồng trên đất than bùn khô cạn sẽ làm phát thải CO2 gấp từ 3-9 lần so với lượng CO2 thải ra do quá trình đốt than, tương đương với lượng cácbon trong 420 năm sản xuất nhiên liệu sinh học để bù lạị. Việc đưa nước trở lại cho các vùng dất than bùn và tái trồng rừng ở những khu vực bị chặt phá có thể làm giảm đáng kể phát thải khí nhà kính trong tương lai. Các đại dương Trong lịch sử, các đại dương có thể hấp thụ khoảng 30% phát thải cácbon, đây là bể chứa cácbon lớn thứ 2 sau khí quyển. • Tuy nhiên, khả năng hấp thu cácbon của các đại dương và các vùng ven biển còn hạn chế hiện nay là khoảng 2 tỷ tấn/năm và dễ bị tổn thương. • Một số nghiên cứu cho rằng, khả năng hấp thụ cácbon của các đại dương có thể đạt mức tối đa khoảng 5 tỷ tấn/năm vào cuối thế kỷ này. • Cơ hội thu hồi và lưu giữ cácbon ở những vùng ven biển và các hệ sinh thái ven bờ như đất ngập nước và rừng ngập mặn có khả năng tăng. • Những vùng nước gần bờ sâu tới 200 mét gồm các hệ sinh thái san hô và cỏ biển có thể chỉ thu hồi được 0,2 tỷ tấn cácbon/năm. • Nhìn chung, rừng ngập mặn có thể lưu giữ khoảng 0,038 tỷ tấn cácbon/năm, cao hơn các rừng trên cạn. • Tuy nhiên, nếu các hình thức sử dụng đất, khai thác rừng và tác động hiện nay không được ngăn chặn thì những vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển sẽ trở thành nguồn phát thải hơn là bể thu hồi và lưu giữ cácbon. • Theo báo cáo, việc mất nơi cư trú của các loài ven biển càng lan rộng thì khả năng lưu giữ cácbon trong đại dương sẽ giảm khoảng 0,03 tỷ tấn cácbon/năm. Chi phí quản lý cácbon trong hệ sinh thái Chi phí cho việc quản lý cácbon của hệ sinh thái có thể rất thấp so với các biện pháp sử dụng năng lượng sạch khác. • Hàng năm chi phí cho quản lý việc chăn thả gia súc, các loại phân bón và cháy ở các đồng cỏ để làm giảm phát thải tốn khoảng 5 USD/tấn CO2. • Việc phục hồi đất và đất canh tác bị suy thoái tốn khoảng 10 USD/tấn, trong đó chi phí cho công nghệ thu hồi và lưu giữ cácbon ước tính khoảng 20-270 USD/tấn CO2. • Giá trị kinh tế của ngành lâm nghiệp có thể giảm xuống một nửa nếu giá cácbon tăng từ 20 USD/tấn đến 100 USD/tấn CO2. • Nếu phát thải cácbon được định giá ở mức 100 USD/tấn CO2, thì đến năm 2030, nông nghiệp sẽ là lĩnh vực đóng vai trò quan trọng thứ 2 trong việc cắt giảm cácbon. Ở mức giá này và thậm chí ở mức giá thấp hơn, ngành nông lâm nghiệp kết hợp sẽ giữ vai trò quan trọng hơn các ngành khác. Tuy nhiên, hiện nay, các biện pháp quản lý khí hậu quốc tế chỉ giải quyết một phần phát thải từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất như chặt phá rừng và không đưa ra những khuyến khích để giảm phát thải cácbon ở các cánh rừng và các hệ sinh thái khác, chưa kể đến việc bảo tồn chúng như những bể cácbon. Đến tháng 12/2009, chính phủ các nước sẽ đàm phán một thỏa thuận mới về khí hậu ở Copenhagen, bước đầu tiên trong thỏa thuận là trả tiền cho những nước đang phát triển để giảm phát thải do chặt phá rừng và làm suy thoái rừng. Theo báo cáo, cần xem xét hệ thống trả tiền hoàn chỉnh hơn đối với các dịch vụ của hệ sinh thái. Theo báo cáo, các hệ sống trên trái đất được phát triển một cách tinh vi, hiệu quả và có lợi để quản lý cácbon. Việc định giá thích hợp theo thỏa thuận này sẽ giúp đưa ra những lựa chọn về kinh tế và phát triển liên quan tới giá, giúp cho việc ngăn ngừa và quản lý hiệu quả các cánh rừng, đồng cỏ, vùng đất than bùn và đất nông nghiệp, yếu tố quan trọng đem lại kết quả của bất kỳ chiến lược giảm thiểu biến đổi khí hậu nào. UNEP và các thành viên, với sự tài trợ của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), đã đưa ra một dự án mới về việc đánh giá chính xác lượng cácbon được lưu giữ trong các hệ sinh thái và những cảnh quan khác theo nhiều cách thức quản lý đối với các cộng đồng ở miền tây Kenya, Niger, Nigeria và Trung Quốc. Từ các kết quả này sẽ xác định các tiêu chuẩn toàn cầu nhờ thực hiện các quyết định đầu tư cácbon. Nguồn: UNEP, 6/2009 |
||
