Quản lý tốt hơn có thể giúp giải quyết vấn đề nước |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 14/Môi trường toàn cầu |
| Đề mục | : | 87.35 Sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Tài nguyên nước ; Bảo tồn |
| Từ khoá phụ | : | sử dụng nước |
| Nội dung: | ||
|
Dân số tăng và sự chuyển đổi sang chế độ ăn thịt cùng với biến đổi khí hậu là các nguyên nhân khiến thế giới bị đe dọa trước cuộc khủng hoảng nước toàn cầu. Song, quản lý nước yếu kém và thiếu đầu tư và chắp vá đã không được chú ý.
Lo ngại trước những khó khăn đối với các nguồn cung cấp lương thực ngày càng tăng trong điều kiện căng thẳng về nước, Tập đoàn Daewoo của Hàn Quốc đã ký một thỏa thuận thuê khoảng một nửa diện tích đất canh tác của Madagascar để trồng ngũ cốc cung cấp cho Hàn Quốc. Sự tức giận gia tăng do các điều khoản của thỏa thuận góp phần tạo nên sự phản đối của dân chúng đối với tổng thống. Một trong những hành động đầu tiên của tổng thống mới là chấm dứt thỏa thuận này. Thống đốc California Arnold Schwarzenegger đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Đây không phải là lần đầu tiên, thống đốc cảnh báo về hạn chế phân phối nước ở bang này. Báo cáo mới đây của Chương trình Đánh giá nước của LHQ cho biết cần hành động ngay nếu chúng ta muốn ngăn ngừa cuộc khủng hoảng nước toàn cầu. Thiếu nước cục bộ đang lan rộng. Ôxtrâylia đã phải trải qua đợt hạn hán kéo dài 1 thập kỷ. Braxin, Nam Phi vốn phụ thuộc vào thủy điện đã liên tục bị sụt áp do không đủ nước để chạy tuabin. Nước từ các dòng sông bị khai thác một lượng lớn để bổ sung cho Biển Aral ở Trung Á đã cạn kiệt từ những năm 80 và bắt đầu hồi phục ở mức vừa đủ. Thiếu nước cục bộ do các hành động sai lầm của các cá nhân trong quản lý hoặc các vấn đề của khu vực chỉ là một khía cạnh. Khía cạnh khác là khủng hoảng nước toàn cầu tác động đến các nguồn cung cấp lương thực và hàng hóa, ảnh hưởng đến các dòng sông và hồ ở mọi nơi. Nước có ở mọi nơi Xung quanh chúng ta có rất nhiều nước và con người không thể sử dụng hết được. Hàng năm, có hàng nghìn km3 nước ngọt ở dạng mưa hay tuyết tan. Theo nghiên cứu năm 2007, hầu hết các quốc gia ở ngoài vùng Vịnh sử dụng 1/5 hay thấp hơn lượng nước họ nhận được ở mức thấp nhất trong năm 2000. Tỷ lệ nước ngọt khai thác trung bình trên toàn cầu là 9% lượng nước lưu thông theo chu trình thủy văn. Mỹ La tinh và châu Phi sử dụng dưới 6%. Đây là bằng chứng cho thấy mọi vấn đề về nước mang tính cục bộ. Mối quan tâm là không ai biết được con người có thể sử dụng bao nhiêu nước là an toàn. Ở nhiều nơi, lượng nước tối đa được sử dụng là gần 1/5, đây là mức trung bình ở toàn châu Á. Mức này tùy thuộc vào tỷ lệ nước tái nạp trở lại hệ thống, lượng nước đã được khai thác từ các tầng ngậm nước … Có một số bằng chứng đã được thừa nhận là cho dù với các mô hình về sử dụng và lạm dụng nước hiện nay thì lượng nước đang được khai đang đi tới giới hạn an toàn ở mức nguy hiểm, một số vùng đã vượt qua giới hạn này. Con số báo động các dòng sông lớn của thế giới không thể đi tới biển gồm sông Hằng, Rio Grande, Colorado, Murray-Darling và Hoàng Hà . Đó cũng là ‘huyết mạch’ của các vùng trồng ngũ cốc lớn trên thế giới. Trữ lượng các loài cá nước ngọt đang suy giảm nhanh chóng. Theo Quỹ Bảo vệ Đời sống Hoang dã Thế giới, trữ lượng cá ở các sông và hồ đã giảm 30% kể từ 1970. Đây là quần thể lớn nhất bị suy giảm so với các động vật khác trong rừng nhiệt đới, ôn đới, hoang mạc hay bất kỳ hệ sinh thái lớn nào khác. Ước tính một nửa các vùng đất ngập nước của thế giới đã bị khô, phá hủy hoặc bị tổn thương trong thế kỷ thứ 20, do lượng nước ngọt ở các sông suy giảm, nước mặn xâm nhập ở vùng châu thổ làm thay đổi cân bằng nước mặt-ngọt. Với bằng chứng này thì các vấn đề về nước có thể là do hệ thống nhưng cũng có thể là do các những xáo trộn ở địa phương. Hai xu thế toàn cầu làm gia tăng áp lực về nước. Cả hai xu thế này đều tăng nhanh trong các thập kỷ tới. Xu thế thứ nhất là nhân khẩu học: Trong 50 năm qua, dân số thế giới đã tăng từ 3 tỷ lên 6,5 tỷ người, sử dụng nước tăng gần gấp 3 lần. Dựa trên các ước tính hiện nay, dân số sẽ tăng thêm 2 tỷ người vào năm 2025 và thêm 3 tỷ người vào năm 2050. Nhu cầu về nước cũng tăng theo. Nhưng quan trọng hơn là không phải số người gây ra chênh lệch lớn về sử dụng nước mà lại do sự thay đổi về thói quen về chế độ ăn. Nông dân sử dụng 3/4 lượng nước trên thế giới, công nghiệp sử dụng gần 1/5, sử dụng nội địa và đô thị chỉ chiếm 1/10. Các loại thực phẩm khác nhau cần lượng nước khác nhau. Để sản xuất 1kg lúa mỳ cần 1.000 lít nước, nhưng để sản xuất 1 kg thịt bò thì cần tới 15.000 lít nước. Chế độ ăn nhiều thịt của người Mỹ và châu Âu cần khoảng 5.000 lít nước/ngày. Chế độ ăn chay của người châu Phi và châu Á chỉ sử dụng khoảng 2.000 lít nước/ngày. So sánh với lượng nước sử dụng hàng ngày cho ăn uống và giặt giũ của người phương Tây là 100-250 lít/ngày. Sự chuyển đổi từ chế độ ăn chay sang ăn thịt góp phần làm giá thực phẩm tăng trong năm 2007-08, ảnh hưởng lớn nhất là đối với nước. Năm 1985, một người Trung Quốc ăn trung bình 20 kg thịt, nhưng năm 2009 là khoảng 50 kg. Sự thay đổi này quy về 390km3 nước (1km3 = 1 nghìn tỷ lít), gần bằng tổng lượng nước sử dụng ở châu Âu. Sự thay đổi chế độ ăn không thể đảo ngược do đó là sản phẩm của sự sự giàu có và đô thị hóa ngày càng tăng. Nhìn chung, cường độ sử dụng nước trong sản xuất thực phẩm tăng nhanh do con người bắt đầu thoát khỏi nghèo khổ và họ bắt đầu ăn nhiều thịt hơn. Song, nếu mức sống ở các nước nghèo nhất bắt đầu tăng trở lại thì sử dụng nước có xu thế tăng. Hơn nữa, dân số thế giới tăng thêm 2 tỷ người từ nay đến 2030, chủ yếu sẽ là dân số của thế giới thứ ba. Dân thành thị sẽ sử dụng nhiều nước hơn dân nông thôn. Theo Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), nếu không có những thay đổi về hiệu suất, thế giới sẽ cần thêm 60% nước cho nông nghiệp để nuôi sống 2 tỷ người tăng thêm này, tương đương với gần 1.500km3 nước hiện đang được sử dụng cho mọi mục đích trên thế giới ngoài khu vực châu Á. Hạn hán và lũ lụt Xu thế dài hạn ảnh hưởng đến nước là biến đổi khí hậu. Có nhiều bằng chứng cho thấy nóng lên toàn cầu đang làm tăng tốc chu trình thủy văn, nghĩa là tốc độ bốc hơi nước, mưa trở lại và tạo thành tuyết. Tốc độ này tăng lên có nghĩa nhiều vùng ẩm ướt trở nên ẩm ướt hơn, các vùng khô trở nên khô hơn, làm hạn hán kéo dài hơn giữa các thời kỳ mưa nhiều hơn. Biến đổi khí hậu có 3 tác động lớn đến sử dụng nước. Thứ nhất, làm thay đổi cách phát triển của thực vật. Ví dụ, cây phát triển mạnh khi có các đợt mưa lớn. Trong thời kỳ khô hạn kéo dài sau đó, sinh khối khô đi và dễ dàng gây ra cháy rừng. Tương tự đối với cây trồng phát triển quá nhanh sau đó héo đi. Thứ hai, biến đổi khí hậu làm tăng các vấn đề về nước. Các trận lũ lụt lớn vượt quá khả năng kiểm soát hiện nay. Các hồ chứa không dự trữ đủ nước cung cấp cho con người và thực vật trong suốt thời kỳ hạn hán. Hơn nữa, nóng lên toàn cầu làm tan các sông băng, lở tuyết và mưa. Do tuyết và băng là các đối tượng điều chỉnh tự nhiên, giữ nước trong mùa đông và giải phóng vào mùa hè, nên nhiều nước bị ngập lụt và hạn hán. Đây là lý do chính giải thích cho các đập nước đã tạo ra sự phát triển lùi, nhất là ở các nước châu Phi có nhiều nước nhưng không có khả năng dự trữ. Số lượng các đập lớn (có độ cao hơn 15m) ngày càng nhiều và đơn đặt hàng các nhà xây dựng đập ngày càng dày hơn. Thứ ba, biến đổi khí hậu đã thuyết phục chính phủ phương Tây trợ cấp cho các loại nhiên liệu sinh học. Đây có thể là một thảm họa lớn đối với tài nguyên nước vì nước được sử dụng cho sản xuất lương thực. Hiện nay, khoảng 2% nước tưới tương đương với 44 km3 được sử dụng để trồng cây cho sản xuất năng lượng. Nếu tất cả các kế hoạch và chính sách quốc gia nhằm tăng nhiên liệu sinh học được thực hiện thì sẽ phải cần thêm 180 km3 nước. Đây chỉ là một lượng nhỏ so với lượng nước cần thiết để cung cấp cho 2 tỷ người tăng thêm và lợi ích của nhiên liệu sinh học vẫn là đáng kể. Trước mắt, thế giới vẫn cần nhiều nước hơn để tồn tại và phát triển, với những dấu hiệu cho thấy nước bị sử dụng quá mức. Để giải quyết vấn đề này, cần cải thiện hiệu quả sử dụng nước. Cách dễ hơn là siết chặt các phương pháp sử dụng nước không hiệu quả. Cách khó hơn đòi hỏi con người phải thay đổi thói quen và kêu gọi chính phủ thay đổi chính sách nước. Cải thiện hiệu suất là công việc có thể thực hiện được và các ngành công nghiệp phải thực hiện, cắt giảm lượng nước cần thiết cho mỗi tấn sắt/thép và mỗi đơn vị tăng GDP ở hầu hết các nước giàu. Điều này có thể tạo ra sự khác biệt. Theo Viện nghiên cứu Thái Bình Dương, chỉ đơn thuần áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước (nếu không có các đột phá công nghệ). Ví dụ ở California là bang ít nước có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu về nước trong các thập kỷ tới chỉ khi không sử dụng một giọt nước nào. Ngành công nghiệp tiêu thụ gần 1/5 lượng nước trên thế giới và vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để nông dân – đối tượng sử dụng 70-80% lượng nước hành động tiết kiệm nước. Ví dụ, lượng nước cần để trồng ngô ở Ấn Độ ít nhất tăng gấp 3 lần, giống như ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Tại một số nước, để sản xuất 1 kg lúa mỳ cần 1.500 l nước, trong khi ở những nước khác là 750 l. Không nên áp dụng theo cách sử dụng nước không bền vững ở nơi này hay nơi khác, bởi có thể là các nơi sử dụng nhiều là nơi có nguồn nước dồi dào. Nhưng quản lý tốt có thể giảm lượng nước sử dụng trong canh tác và thế giới có thể sẽ tốt hơn nếu nông dân cũng làm như vậy. Thay đổi các biện pháp tưới tiêu có thể cải thiện hiệu suất sử dụng nước tới 30%. Ví dụ, một giải pháp là đảm bảo nước bốc hơi từ lá cây hơn là bốc hơi từ đất. Giải pháp khác là cây trồng biến đổi gien có thể ngừng tăng trưởng khi thiếu nước, nhưng không chết, đơn giản sẽ hồi phục khi có mưa trở lại. Thế giới có thể sẽ tốt hơn, ít nhất về vấn đề nước nếu các mô hình thương mại phản ánh cụ thể lượng nước tiêu thụ gắn với các loại hàng hóa thương mại. Một số ảnh hưởng tốt ban đầu như Mêxicô nhập ngũ cốc từ Hoa Kỳ, chỉ tiêu thụ 7 tỷ m3 nước. Nếu tự trồng, nước này có thể tiêu thụ 16 tỷ m3, như vậy thương mại đã tiết kiệm được 9 tỷ m3 nước. Theo Tổng Giám đốc UNESCO, Koichiro Matsuura – cơ quan chính của LHQ chịu trách nhiệm về nước thì để sử dụng nước hiệu quả hơn cần có những thay đổi cơ bản về hành vi. Điều này có nghĩa là quản lý việc thay đổi các biện pháp khuyến khích, tăng cường thông tin và cách sử dụng nước. Nước hiếm khi được định giá theo cách phản ánh của cung - cầu. Thông thường, việc định giá nước đơn giản là người dân đô thị phải trả tiền cho các chi phí đường ống cấp nước và nhà máy xử lý nước thải. Thiếu thông tin cơ bản về lượng nước sử dụng đối với mỗi đối tượng. Nước mưa và lưu lượng dòng chảy sông có thể đo được chính xác, nhưng lượng nước bơm ra từ các hồ lại là phỏng đoán và thông tin về lượng nước khai thác từ các tầng ngậm nước hầu như không có. Quản lý nước cũng trong tình trạng lộn xộn. Cho đến nay, chỉ có có một số ít nước nghèo coi nước là một tài nguyên khan hiếm và không cho rằng cách họ nghĩ có thể ảnh hưởng đến các dự án phát . Không hề ngạc nhiên khi đầu tư vào nước chắp vá và không được chú ý. Viện trợ cho các nước đang phát triển không thay đổi từ 1990 đến 2005. Trong giai đoạn này, có sự chuyển đổi lớn từ lĩnh vực nước tưới sang lĩnh vực nước sạch và vệ sinh. Điều này có thể hiểu là viện trợ cho các đối tượng chính sử dụng nước và nông dân ở các nước nghèo sẽ giảm. Viện trợ cho các dự án tưới tiêu trong giai đoạn 2002-2005 chỉ còn gần một nửa so với mức của giai đoạn 1978-81. Angel Gurría, Giám đốc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) cho rằng đó là cuộc khủng hoảng tài chính trong lĩnh vực nước. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp luôn đi trước trong việc quản lý chặt chẽ chất thải. Các hãng giải khát lớn như Coca Cola đã đặt mục tiêu giảm lượng nước sử dụng trong sản xuất sản phẩm (đối với hãng này là giảm 20% vào năm 2012). Tổ chức phi chính phủ Nature Conservancy đang triển khai một kế hoạch cấp chứng nhận cho các công ty và các doanh nghiệp (giống như biểu tượng Fairtrade) về hiệu quả sử dụng nước. Kế hoạch này dự kiến sẽ thực hiện vào năm 2010. Nguồn: People&the Planet, 5/2009 |
||
