Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2009 » Số 11 » Phát triển bền vững » Các vấn đề môi trường bất cập trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

Các vấn đề môi trường bất cập trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2009/Số 11/Phát triển bền vững
Đề mục : 87.25 Biến đổi môi trường do con người gây ra ảnh hưởng tới sức khoẻ và tiềm năng lao động - xã hội của dân cư
Từ khoá : Môi trường nông thôn Chất thải Sức khỏe con người
Từ khoá phụ : Ô nhiễm môi trường
Nội dung:
1. Môi trường trong ngành trồng trọt:
Hiện nay có khoảng hơn 1000 hợp chất được dùng làm hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) với số lượng ngày càng gia tăng (từ 10.000 tấn năm 1980 đến nay khoảng 30.000 tấn/năm). Lượng phân hóa chất BVTV sử dụng bình quân/ha ở nước ta còn ở mức thấp (khoảng 2 kg /ha). Tuy nhiên, lượng thuốc BVTV lại được sử dụng tập trung ở mức cao tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long đã gây ô nhiễm nguồn nước ở các kênh, sông; ở một số nơi, đây cũng là nguồn nước dùng cho nuôi trồng thủy sản và cả cho sinh hoạt.

Việc sử dụng, bảo quản thuốc BVTV chưa đúng quy định đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Qua phân tích cho thấy: lượng tồn dư thuốc BVTV trong đất chưa vượt qua ngưỡng cho phép, nhưng nếu không kiểm soát sẽ tích lũy và gây ô nhiêm môi trường. Có tới 30 - 60 % số mẫu rau được kiểm tra còn dư lượng hóa chất BVTV quá mức cho phép, trong đó có một số loại thuốc cấp không nằm trong danh mục được phép sử dụng. Khối lượng vỏ bao thuốc BVTV trung bình là 19.637 tấn/năm, chủ yếu là các loại vỏ bao giấy tráng kẽm, túi nilon, các loại chai nhựa và thủy tinh không đáng kể. Vỏ bao thuốc BVTV hiện nay hầu như không được thu gom mà vương vãi trên đồng ruộng, kênh, mương là nguồn ô nhiễm khá nghiêm trọng.

Suy thoái môi trường đất với diện tích đất bị xói mòn rửa trôi mạnh chiếm 17%, trong đó có khoảng 1,5% diện tích đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá gần như mất khả năng sản xuất. Nguyên nhân do địa hình dốc, canh tác không bền vững và khái thác rừng bừa bãi. Hiện nay có khoảng 7.055.000 ha đất đang chịu tác động mạnh bởi quá trình hoang mạc hóa bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa, đụn cát và bãi cát di động. Hiện tượng sa mạc hóa xảy ra khá nghiêm trọng tập trung ở các tỉnh miền Trung như ở các tỉnh Ninh Thuận, Quảng Trị, Quảng Bình, v.v…

Ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp, sinh hoạt,v.v…khá nghiêm trọng. Một số lưu vực sông lớn (sông Nhuệ, sông Đồng Nai, sông Cầu) đã có biểu hiện suy thoái nghiêm trọng không đủ điều kiện sử dụng làm nguồn nước tưới cho nông nghiệp. Nguy cơ phú dưỡng từ chất thải và tích lũy một số kim loại nặng (KLN) độc hại trong đất cũng gia tăng, đã có những nơi hàm lượng KLN vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần. Nguyên nhân do sự phát triển một cách ồ ạt các khu công nghiệp và vấn đề đô thị hóa nhanh chóng.

Suy thoái môi trường từ hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản: Các trang trại chăn nuôi tập trung đã và đang đe dọa môi trường đất, nước, không khí ở mốt số tỉnh phát triển mạnh về chăn nuôi như Thái Bình, Hà Nội, Vĩnh Phúc; Xung đột quyền lợi với môi trường đã xảy ra ở nhiều đia phương. Nuôi trồng thủy sản không được quy hoạch đã làm môi trường đất bị tái nhiễm mặn mất khả năng canh tác. Nhiều nơi chất lượng môi trường nước tưới cũng bị ô nhiễm do nguồn thức ăn và sử dụng kháng sinh, chất tẩy rửa trong hoạt động chăn nuôi.

2. Môi trường trong chăn nuôi, thú y:
Cả nước hiện có 16.708 trang trại chăn nuôi, tỷ trọng chăn nuôi trang trại và công nghiệp chiếm 37%. Số lượng các trang trại tập trung chính ở vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 45,3%, vùng Đông Nam bộ chiếm 13%. Tổng đàn gia súc là 37.899.800 con và 214.566.000 con gia cầm. Tuy nhiên, số lượng gia súc lại tập trung chủ yếu ở miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên, chiếm tới 75,7%. Theo Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi, tỷ trọng chăn nuôi trang trại và công nghiệp sẽ tăng từ 37% năm 2006 lên 48-50% vào năm 2010, 58-60% vào năm 2015 và 68-70% vào năm 2020.

Với lượng thải của 1 con bò từ 10-15 kg phân/ngày, 1 con trâu là 15-20 kg phân/ngày, 1 con lợn là: 2,5-3,5 kg phân/ngày, và 1 gia cầm là 90 gram phân/ngày thì tổng khối lượng chất thải chăn nuôi khoảng 73.090.133 tấn năm, trong đó chất thải của trâu chiếm 21,9%, bò chiếm 32,5%, lợn chiếm 33,4%.
Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi, năm 2006 có 12% số gia trại, trang trại có hệ thống xử lý chất thải; số còn lại toàn bộ chất thải được thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước mặt, nước ngầm. Ngoài ra, sự phát sinh dịch bệnh làm ảnh hư¬ởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi.

Ở Vùng nông thôn nước ta có tới 80% các bệnh nhiễm trùng có liên quan đến nguồn nước bị nhiễm vi sinh vật (VSV) như các bệnh do virus, giun sán, côn trùng, bệnh tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, tiêu chảy, các bệnh ngoài da, bệnh mắt, v.v…Nguyên nhân chủ yếu do hầu hết gười chăn nuôi chưa xử lý chất thải lỏng trong chăn nuôi, vứt xác gia súc, gia cầm bừa bãi, hệ thống thoát nước thải đơn giản, v.v…

Ô nhiễm đất do chăn nuôi cũng đang ngày càng bức xúc vì nước ô nhiễm trong chăn nuôi thâm lọc qua các lớp đất. Mặt khác, chất thải rắn trong chăn nuôi mà lượng phân vật nuôi là chủ yếu ngày một tăng (ước khoảng 78,9 triệu tấn năm 2007, khoảng 80,4 triệu tấn năm 2008) do tốc độ tăng trưởng chăn nuôi tăng nhanh trước áp lực tăng dân số và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và đa dạng của xã hội.
Ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm tiếng ồn và nguy cơ lây lan các bệnh từ vật nuôi sang người ngày càng tăng cao do công nghệ, phương thức và quy mô chăn nuôi nước ta còn lạc hậu, nhỏ lẻ, phân tán, xen lẫn trong khu dân cư. Tính đa dạng sinh học giảm sút

Chăn nuôi là ngành có nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở nông thôn. Khí mê tan do vật nuôi thải chiếm khoảng 20% lượng khí mêtan trên toàn cầu. Lượng khí thải từ chăn nuôi ở Việt Nam là khá lớn trong khi việc dùng chế phẩm giảm ô nhiễm trong chăn nuôi, sử dụng các vacxin ức chế loại vi khuẩn gây khí mêtan trong dạ cỏ gia súc nhai lại, các loại máy OZON làm sạch không khí trong các cơ sở chăn nuôi, v.v… còn rất ít.

Thuốc thú y sử dụng không theo hướng dẫn của chuyên môn, bị lạm dụng tạo nên dư lượng thuốc trong sản phẩm chăn nuôi gây hiện tượng kháng thuốc của nhiều loại mầm bệnh nguy hiểm đối với con người.

( tiếp theo số 12-2009)
Nguồn: Viện Kinh tế & Quy hoạch thuỷ sản, 5/2009
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia