Dân số thế giới sẽ tăng lên 9 tỷ người vào năm 2050 |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 11/Dân số và môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Dân số |
| Từ khoá phụ | : | Phát triển |
| Nội dung: | ||
|
Theo Báo cáo dân số 2008 của Liên Hợp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷ người vào đầu năm 2012, tăng 6,8 triệu người so với mức hiện nay và đến năm 2050 sẽ vượt quá 9 tỷ người.
Tháng 7/2009, dân số thế giới sẽ tăng lên 6,8 tỷ người, cao hơn năm 2005 là 313 triệu người, tức là mỗi năm tăng 78 triệu người. Nếu tỷ lệ sinh tiếp tục giảm thì dân số thế giới vẫn sẽ tăng lên 9,1 tỷ người vào năm 2050 và vào thời điểm đó sẽ tăng khoảng 33 triệu người mỗi năm. Phần lớn trong số 2,3 triệu người tăng thêm là ở các nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng từ 5,6 tỷ người năm 2009 lên 7,9 tỷ năm 2050 và dân số có độ tuổi từ 15-59 là 1,2 tỷ người và trên 60 là 1,1 tỷ người vì số trẻ em dưới 15 tuổi ở các nước đang phát triển sẽ giảm. Trái lại, dân số các nước phát triển hơn sẽ thay đổi không đáng kể, từ 1,23 triệu người lên 1,28 tỷ và sẽ giảm còn 1,15 tỷ người là do tình trạng di dân từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển ở mức trung bình 2,4 triệu người mỗi năm trong khoảng thời gian từ năm 2009-2050. Các kết quả của Báo cáo dân số năm 2008 đã kết hợp số liệu của các cuộc điều tra dân số quốc gia gần đây với kết quả của nhiều cuộc khảo sát dân số đặc biệt được thực hiện trên toàn thế giới. Báo cáo dân số năm 2008 cung cấp dữ liệu dân số và các chỉ số để đánh giá xu hướng dân số cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu và tính toán nhiều chỉ số quan trọng khác mà Liên Hợp Quốc sử dụng phổ biến. Một báo cáo mới đây của Liên Hợp Quốc về các Chính sách dân số thế giới 2007, nêu rõ, Chính phủ nhiều nước vẫn lo ngại về các hậu quả của sự gia tăng dân số quá mức đến tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Tăng dân số ở mức cao vẫn là mối lo lớn ở các nước đang phát triển. Năm 2007, một nửa trong số các nước đang phát triển được đánh giá có mức tăng dân số quá cao mặc dù tốc độ tăng dân số ở các nước này tiếp tục giảm trung bình từ 2,4% trong khoảng từ năm 1970-1975 xuống còn 1,4% từ năm 2000-2005. Trong 50 nước kém phát triển nhất, tỷ lệ các nước được đánh giá có mức tăng dân số quá cao đã tăng từ 50% năm 1986 lên 78% năm 2007. Nhiều nước đang phát triển đã khẳng định tầm quan trọng của việc giảm tỷ lệ tăng dân số cao để giảm nhẹ áp lực ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đấu tranh chống biến đổi khí hậu, ngăn chặn tình trạng thiếu lương thực, tạo việc làm và cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người. Châu Phi là khu vực có mức tăng dân số cao nhất với 66% năm 2007, tăng từ 33% năm 1976. Ở châu Á, khu vực có tỷ lệ sinh cao, 45% các nước châu Á được đánh giá có mức tăng dân quá cao. Trong khi đó, một nghiên cứu mới đã đưa ra bằng chứng cho thấy sự thay đổi dân số có quan hệ mật thiết với phát thải khí nhà kính và các động lực tăng dân số sẽ giữ vai trò quan trọng để giảm thiểu và thích ứng với các ảnh hưởng do sự thay đổi của hệ thống khí hậu trong tương lai. Tổ chức Hành động dân số quốc tế (PAI), nhóm tư vấn chính sách độc lập đặt tại Hoa Kỳ, cho rằng việc phân tích những thay đổi về cơ cấu dân số là rất quan trọng để nhận thức được yêu cầu và khả năng giảm thiểu phát thải cácbon và biến đổi khí hậu trong tương lai. Những thay đổi về dân số bao gồm cơ cấu độ tuổi, sự phân bố của người dân ở đô thị và nông thôn, và quy mô hộ gia đình. Theo các phân tích của PAI, nếu chỉ tính quy mô dân số như sự thay đổi về dân số trong các mô hình khí hậu, thì sẽ đánh giá không đúng về tác động tăng dân số gây biến đổi khí hậu. Đồng thời, việc nhận thức không đúng về các xu hướng dân số bao gồm tỷ lệ sinh, gia tăng dân số, đô thị hóa, di cư khỏi các khu vực suy thoái môi trường và mật độ dân cao trong các khu vực khó canh tác và dễ tổn thương là cần thiết để thế giới thích ứng và đối phó với các tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân lớn chưa từng thấy đe dọa thị trường. Cần phải đầu tư 1% GDP toàn cầu cho giảm thiểu biến đổi khí hậu, nếu không sẽ dẫn đến giảm 20% giá trị GDP toàn cầu. Tuy nhiên, các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu không giới hạn trong địa giới hành chính nào. Biến đổi khí hậu đặt ra thách thức lớn cho toàn thế giới và có quan hệ mật thiết với sự thịnh vượng của loài người cũng như an ninh nhân loại, gồm có nguy cơ xung đột vũ trang về tài nguyên và di cư trên quy mô lớn trong nước và giữa các nước. Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC) ước tính đến năm 2050 sẽ có 150 triệu dân tị nạn môi trường, chủ yếu là do các ảnh hưởng của lũ lụt ven biển, xói mòn bờ biển và thiệt hại trong nông nghiệp. Để giải quyết tình trạng trên, cần có nhiều chính sách phát triển bao gồm cam kết mới để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) đã được nhất trí trên toàn cầu. Các khoản đầu tư cho kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản, giáo dục trẻ em, các cơ hội kinh tế và trao quyền cho phụ nữ, và giới trẻ có thể giúp các nước đang phát triển và kém phát triển tăng tốc độ chuyển đổi cơ cấu dân số góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và khả năng ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Động thái về dân số không nên tiếp tục bị “phớt lờ” trong các chiến lược thích ứng với biển đổi khí hậu và cần có các biện pháp hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới bao gồm các nhu cầu cơ bản của phụ nữ. Đấu tranh chống biến đổi khí hậu đòi hỏi phải có nỗ lực quản lý môi trường và hợp tác quốc tế trong các cách tiếp cận giảm thiểu và thích ứng với phát thải. Các cách tiếp cận này sẽ mang lại lợi ích nhờ chú ý hơn đến các động thái về dân số, gồm có tốc độ tăng dân số, cơ cấu hộ gia đình, đô thị hóa và già hóa. Nguồn: Guardian, 5/2009 |
||
