Phát triển năng lượng tái tạo – Khó khăn vì thiếu công nghệ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 10/Năng lượng và Môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Phát triển ; Năng lượng tái tạo ; Công nghệ ; Năng lượng gió ; Năng lượng sinh học ; Năng lượng mặt trời |
| Nội dung: | ||
|
Việt Nam giàu tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo (NLTT), đặc biệt là tiềm năng từ năng lượng gió, khí sinh học, mặt trời… nhưng đến nay hiệu quả còn rất khiêm tốn mà nguyên nhân chính là chưa có công nghệ tiên tiến, phù hợp để sản xuất tốt NLTT.
NLTT giúp giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ, giảm thiểu biến động kinh tế khi giá dầu tăng, giảm ô nhiễm môi trường… Với hệ thống sông suối nhỏ dày đặc, hiện nay, nước ta có khoảng 120.000 trạm thuỷ điện, chủ yếu do tư nhân đầu tư, với tổng công suất ước tính khoảng 300MW, cung cấp điện hàng năm cho hàng vạn hộ gia đình ở các khu vực miền núi và vùng cao. Khí sinh học (bioga) ở khu vực châu thổ Sông Hồng và sông Cửu Long cũng đang được các hộ gia đình sử dụng để nấu nướng. Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam còn có nhiều tiềm năng phát triển NLTT khác. Điển hình là khoảng 200 nguồn suối nước nóng nhiệt độ từ 40 - 150 độ C tập trung ở khu vực miền Trung sẽ là nguồn địa nhiệt lý tưởng để xây dựng các trạm phát điện. Hơn 100.000 nhà máy xay xát lúa gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có thể cung cấp nhiên liệu cho các nhà máy điện chạy bằng vỏ trấu với tổng công suất 70MW…Số lượng bã mía do các nhà máy đường thải ra hiện nay có thể cung cấp đủ cho các trạm phát điện với tổng công suất khoang 250 MW. Khí sinh học ở khu vực châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long đang được các hộ gia đình sử dụng để nấu nước, thắp sáng và chạy các động cơ công suất nhỏ. Nguồn năng lượng mặt trời ở nước ta khá dồi dào với mức độ bức xạ nhiệt từ 3 - 4,5kWh/m2/ngày (mùa đông), 4,5 - 6,5kWh/m2/ngày (mùa hè). Tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam cũng khá lớn trong việc cung cấp điện cho những khu vực vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có lưới điện quốc gia. Thiếu công nghệ tiên tiến Mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng đến nay việc phát triển NLTT ở Việt Nam rất khiêm tốn. Việc khai thác còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể và một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do chúng ta chưa có được công nghệ phù hợp, tiên tiến để sản xuất hiệu quả NLTT. Ví dụ điển hình nhất là việc phát triển năng lượng gió. Theo tiến sĩ Dương Duy Hoạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học (Viện Khoa học Năng lượng - Viện KH&CN Việt Nam), Việt Nam bắt đầu quan tâm, nghiên cứu năng lượng gió từ những năm 1980. Sau gần 30 năm, nhiều hoạt động nghiên cứu đã được triển khai như điều tra cơ bản đánh giá tiềm năng, chế tạo thử nghiệm thiết bị công nghệ, nghiên cứ cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, triển khai các mô hình thử nghiệm, tổ chức hợp tác quốc tế dưới những hình thức tài trợ, hợp tác song phương, hội thảo. Các kết quả nghiên cứu điều thống nhất đánh giá Việt Nam rất có tiềm năng về gió. Tuy nhiên, tiềm năng ấy đến đâu, khả năng ứng dụng thế nào để có thể xây dựng chiến lược phát triển cụ thể thì chứa ai chỉ ra được. Riêng công nghệ đo gió của Việt Nam cũng vào loại lạc hậu, ít có trên thế giới, kiểu "nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây" rồi... đoán. Có nơi sử dụng dụng cụ lạc hậu, chủ yếu đo ở độ cao khoảng 10 m, có nơi lại đo thử nghiệm ở độ cao khá thấp rồi tính toán suy luận lên những độ cao hơn. Vì vậy, hiện nay, Việt Nam chưa có đủ cơ sở dữ liệu tin cậy và đầy đủ để đánh giá được tiềm năng thực tế về năng lượng gió, nói gì đến công nghệ tiên tiến để phát triển, ứng dụng năng lượng gió phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh. Ông Lò Quang Chiêu, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Thiết kế Nông lâm nghiệp, Sở NN&PTNN Điện Biên cho biết, Điện Biên là tỉnh miền núi, có nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng gió, thuỷ điện phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế và đời sống của bà con vùng cao. Tuy nhiên, thời gian qua, địa phương rất lúng túng trong việc tìm công nghệ vì trên thực tế số công nghệ phát triển NLTT ở Việt Nam rất ít, khả năng tiếp cận với công nghệ của nước ngoài lại càng hạn chế. Để đạt mục tiêu từ nay đến năm 2010, năng lượng tái tạo chiếm 3% tổng công suất điện thương mại và đạt 5% vào năm 2020, vấn đề then chốt là có công nghệ NLTT tiên tiến, chi phí hợp lý, có chính sách hỗ trợ thích hợp, khuyến khích các nhà đầu tư cải tiến công nghệ để giảm dần chi phí sản xuất NLTT, tiến tới có thể cạnh tranh về giá so với năng lượng truyền thống. Đáp ứng yêu cầu trên, Triển lãm quốc tế về các giải pháp NLTT và phân tán năm 2010 (ENEREXPO Việt Nam 2010) sẽ được tổ chức vào tháng 3/2010. Nguồn: Khoa học & Phát triển, 14-20/5/2009 |
||
