Khai thác năng lượng tái tạo ở Philipin |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2009/Số 1/Năng lượng và môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Năng lượng tái tạo ; Khai thác ; Philipin |
| Nội dung: | ||
|
Ở Philipin, năng lượng tái tạo có tiềm năng to lớn. Hiện nay, phần lớn nông dân nước này thắp sáng bằng đèn dầu và nấu nướng bằng bếp lò ám khói đang gây hại đến sức khoẻ.
Năng lượng tái tạo kết hợp với sử dụng năng lượng thông minh có thể đáp ứng hơn 60% nhu cầu năng lượng của Philipin vào năm 2050. Và năng lượng tái tạo có thể ổn định phát thải CO2 và các khí nhà kính gây nóng lên toàn cầu. Phòng Phân tích hệ thống và Đánh giá công nghệ (Viện Nhiệt động lực kỹ thuật) thuộc Trung tâm hàng không vũ trụ Đức (DLR), Tổ chức Greenpeace, Hội đồng Năng lượng tái tạo châu Âu (EREC) và các chuyên gia thuộc Trung tâm công nghệ quốc gia thuộc Đại học Philipin, đã đưa ra một kịch bản về năng lượng cho Philipin như là kế hoạch thực tiễn chi tiết về biện pháp đạt được các mục tiêu giảm CO2 và đảm bảo đủ nguồn cung cấp năng lượng. Kết luận được đưa ra, đó là vào năm 2030, năng lượng tái tạo có thể đáp ứng 57% nhu cầu năng lượng của Philipin, sẽ thúc đẩy triển khai sử dụng năng lượng tái tạo trên quy mô lớn. Bằng cách lựa chọn năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu suất năng lượng, Philipin có thể ổn định phát thải CO2 đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều kiện tiên quyết để đạt tỷ lệ lớn về năng lượng tái tạo là giảm tiêu thụ các nhiên liệu hoá thạch. Hiện nay, hơn một nửa nhu cầu năng lượng tối thiểu của Philipin (khoảng 55%) được đáp ứng bởi các nhiên liệu hoá thạch. Các nguồn năng lượng tái tạo đang nhanh chóng được khai thác chiếm 44% nhu cầu năng lượng thiết yếu. Sinh khối hầu hết được sử dụng để nấu nướng cùng với năng lượng địa nhiệt và thuỷ năng chủ yếu dùng để sản xuất điện, là các nguồn năng lượng tái tạo đang được sử dụng phổ biến hiện nay. Tỷ lệ năng lượng tái tạo dùng để sản xuất điện chiếm 32%. Sự đóng góp của các năng lượng tái tạo để nấu nướng chiếm khoảng 68%. Ngành điện sẽ có tốc độ sử dụng năng lượng tái tạo lớn nhất. Đến năm 2050, hơn 70% điện năng sẽ được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo. Trong ngành giao thông hiện nay, các nhiên liệu sinh học có thể chiếm tỷ lệ lớn năng lượng tái tạo. Ở Philipin, phát thải CO2 liên quan đến năng lượng vẫn giữ ở mức cao đỉnh điểm vào năm 2020 và tăng từ 75 triệu tấn năm 2005 lên 81 triệu tấn vào năm 2050. Phát thải CO2 bình quân mỗi năm sẽ khoảng 1 tấn. Mặc dù triển khai sử dụng ngày càng nhiều nhà máy điện khí và nhu cầu điện năng tăng lên, nhưng phát thải CO2 trong ngành điện vẫn sẽ giảm. Ngành điện là một trong những nguồn phát thải CO2 liên quan đến năng lượng ở Philipin nhưng đến năm 2050, phát thải từ ngành này sẽ chỉ chiếm 25% tổng lượng phát thải. Nâng cao hiệu suất năng lượng và chuyển sang sử dụng nguồn năng lượng tái tạo về lâu dài sẽ làm giảm gần 40% chi phí cung cấp điện. Các chuyên gia đều cho rằng, sự thay đổi cơ bản này cần phải bắt đầu rất sớm và phải được thực hiện trong vòng 10 năm tới để đẩy lùi các tác động xấu nhất. Philipin cần thay đổi đổi toàn diện theo hướng họ đang sản xuất, tiêu thụ và phân phối năng lượng. Cuộc cách mạng năng lượng sẽ cho phép Philipin hạn chế nóng lên toàn cầu ở mức dưới 20C. Hiện nay, đa số mọi người đều nhất trí với quan điểm khoa học cho rằng biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động của con người (như đốt các nhiên liệu hoá thạch), đang diễn ra và nếu con người không kiểm soát được tình trang này sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng. Bằng chứng có cơ sở khoa học cho thấy chúng ta nên hành động ngay. Bằng chứng khoa học này được thể hiện trong các kết luận của Uỷ ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPPC), cơ quan của LHQ gồm hơn 1.000 nhà khoa học chuyên tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách. Theo Nghị định thư Kyoto, các bên tham gia đã ký cam kết giảm 5,2% phát thải khí nhà kính của nước họ so với mức của năm 1990 trong thời gian từ năm 2008-2012. Philipin đã ký kết Nghị định thư Kyoto vào tháng 10/2003. Hiện nay, các bên tham gia Kyoto đang thương lượng về giai đoạn 2 của Hiệp ước kéo dài từ năm 2013-2017. Trong khoảng thời gian này, các nước công nghiệp hoá cần phải giảm phát thải CO2 của nước mình 18% so với mức năm 1990 và sau đó là 30% trong khoảng từ năm 2018-2022. Chỉ giảm phát thải CO2 ở mức như vậy thế giới mới có cơ hội để duy trì sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu dưới 20C, vượt quá giới hạn này biến đổi khí hậu sẽ gây ra các tác động thảm khốc. Nguồn: Greenpeace Southeast Asia, 22/12/2008 |
||
