Nhật Bản đẩy mạnh tái chế ô tô cũ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 22/Quản lý môi trường |
| Đề mục | : | 87.35 Sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Tái chế ; Ô tô ; Nhật Bản |
| Nội dung: | ||
|
Nhật Bản nằm trong số 10 nước đứng đầu thế giới về sở hữu ô tô cá nhân. Cuối năm 2005, ở nước này có khoảng 75 triệu xe, như vậy cứ 1,7 người sở hữu 1 xe, trong khi đó mức trung bình trên toàn thế giới là 7,5 người/1 xe. Tuổi thọ trung bình của xe đang được nâng lên, năm 2005, tuổi thọ của ô tô là 10,9 năm và xe tải là 11,7 năm. Ở Nhật Bản, mỗi năm có gần 5 triệu ô tô được thanh lý. Những chiếc xe này vẫn được xem là tài nguyên hữu ích vì chúng có chứa các kim loại và phụ tùng giá trị. Khoảng 1 triệu xe được xuất khẩu như là xe “hàng thùng”, 4 triệu xe còn lại được người bán vận chuyển đến các công ty tháo dỡ ô tô và thu mua kim loại vụn để xử lý vì mục đích tái sử dụng và tái chế. Theo quy trình tái chế, trước tiên, công ty tháo dỡ ô tô thu hồi phần động cơ, thân máy và thiết bị điện chiếm khoảng từ 20% - 30% trọng lượng của xe để tái sử dụng làm các phụ kiện có ích. Khoảng 50% - 55% phụ kiện xe (theo trọng lượng) là không tái sử dụng được, kể cả một số phụ kiện của động cơ như bộ phận xúc tác, kim loại không phải là sắt và lốp xe; chúng được tái chế thành nguyên liệu thô. Nhìn chung, 75% - 80% phụ tùng xe được tái sử dụng hoặc tái chế. Từ tháng 10/2002, Luật về Thu hồi và Phá huỷ Fluorocácbon quy định việc thu hồi fluorocácbon sử dụng trong máy điều hoà của ô tô. Ngoài ra, các túi khí có nguy cơ phát nổ cũng phải được xử lý thích hợp nhờ hệ thống xử lý chủ động. Các phụ kiện còn lại tương đương với 20%-25% trọng lượng xe được nghiền vụn và đem chôn lấp. Tuy nhiên, những năm tới, nhu cầu giảm dư lượng chất thải này tăng cao vì các bãi chôn lấp chất thải công nghiệp đang sắp hết sức chứa. Tuy nhiên, mối lo ngại ngày càng tăng đó là hệ thống tái chế hiện nay có thể bị phá vỡ bởi vì phần lớn công ty tháo dỡ ô tô và nghiền vụn chất thải đang bị giảm lợi nhuận do chi phí xử lý cuối cùng tăng đột biến và giá sắt vụn lại giảm. Việc xử lý theo đúng quy cách sẽ trở nên khó khăn và chôn lấp bất hợp pháp xe cũ sẽ phổ biến hơn. Để đẩy mạnh tái chế phụ kiện ô tô một cách thích hợp, chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật Tái chế xe cũ vào tháng 1/2005. Luật này quy định vai trò của các nhà sản xuất ô tô và các đối tượng có liên quan đến hoạt động tái chế ô tô cũ. Nội dung chính của Luật tái chế xe cũ là thừa nhận việc sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có để tái chế xe cũ. Về cơ bản, Luật nhằm vào các mục tiêu: (1) Xử lý các phụ kiện được tách rời của xe, fluorocácbon và túi khí. (2) Thúc đẩy quy định cạnh tranh lành mạnh. (3) Giảm thiểu chất thải ở khâu cuối cùng đổ vào bãi chôn lấp. (4) Ngăn chặn hoạt động xử lý bất hợp pháp ô tô cũ. Các nhà sản xuất ô tô và nhà nhập khẩu (dưới đây đều gọi chung là nhà sản xuất ô tô) buộc phải loại bỏ fluorocácbon, túi khí và phần phụ kiện tháo rời từ xe ô tô mà họ sản xuất hay nhập khẩu và tái chế hợp lý khi những chiếc xe này được quay trở lại để tái chế. Chủ xe ô tô phải mang xe cũ tới các cơ sở thu gom đã đăng ký, theo đó họ sẽ bàn giao cho các cơ sở thu hồi fluorocácbon (cơ sở tháo dỡ xe đã được cấp phép). Cơ sở cuối cùng loại bỏ túi khí và các phụ kiện khác của xe có thể tái chế. Vỏ xe được chuyến đến cho các cơ sở tháo dỡ ô tô và được xử lý thành các phụ kiện được tháo rời để tái chế. Các nhà sản xuất ô tô được uỷ quyền tiếp nhận các phụ kiện ô tô được tháo rời, fluorocácbon và túi khí được thu gom và được trả phí thu gom. Hệ thống Kiểm kê Điện tử (hệ thống theo dõi và quản lý thông tin về xe) yêu cầu các cơ sở trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tái chế ô tô phải báo cáo về trung tâm quản lý thông tin mỗi khi tiến hành các giao dịch kinh doanh với nhau. Hệ thống này cho phép quản lý tổng hợp và xử lý đúng thông tin liên quan. Chi phí tái chế do chủ phương tiện trả, thường trả vào lúc mua xe. Đối với các xe được mua trước ngày luật có hiệu lực, khoản phí này sẽ được trả vào lần kiểm tra xe đầu tiên hoặc khi xe được chuyển về các công ty thu gom xe cũ. Mặc dù chi phí tái chế được nhà sản xuất ô tô xác định và thông báo, nhưng chính phủ Nhật Bản vẫn sẽ điều chỉnh hay qui định khi mức phí này được xem là không hợp lý. Phí tái chế được quản lý bởi bên thứ ba, cơ quan quản lý quỹ. Theo quy định của Luật Hiện hành, xe cũ được tái chế bởi 85000 công ty thu gom xe cũ tái chế, 22000 công ty thu hồi fluorocácbon, 5800 công ty tháo dỡ và 1200 công ty nghiền vụn chất thải. Phí tái chế phụ thuộc vào loại xe và bằng tổng phí xử lý fluorocácbon, túi khí và phụ kiện tháo dỡ từ xe và chi phí quản lý tài chính và xử lý thông tin, có tổng giá trị từ 6000 đến 18 000 yên (khoảng 51 – 153 USD). Trung tâm xúc tiến tái chế ô tô Nhật Bản (JARC) được thành lập bởi các ngành công nghiệp liên quan đến ô tô, có trách nhiệm quản lý phí tái chế cũng như hệ thống theo dõi và quản lý thông tin về xe. Trung tâm này đưa ra báo cáo thường niên về hoạt động kinh doanh của mình. Để triển khai hệ thống tổng hợp thu gom và xử lý fluorocácbon, các nhà sản xuất ô tô đã góp quỹ để thành lập một công ty trung gian còn gọi Công ty tái chế ô tô Nhật Bản (JARP) đóng vai trò như là trung tâm hoạt động tái chế của nhóm. Trong hoạt động thu gom và tái chế ASR, nhà sản xuất ô tô được chia làm 2 nhóm. Một nhóm gọi là nhóm TH, gồm có Công ty ô tô Toyota, Công ty TNHH Honda và 6 công ty khác, và Công ty Tái chế Toyotsu, công ty con của Toyota được giao thực hiện hoạt động tái chế. Nhóm nữa có tên nhóm ART (nhóm xúc tiến tái chế phụ kiện ô tô được tháo dỡ), bao gồm công ty ô tô Nissan, Công ty TNHH Isuzu và 9 công ty khác. Ban lãnh đạo nhóm ART liên kết với một số công ty thương mại xây dựng các kế hoạch tái chế . Tỷ lệ tái chế phụ kiện ô tô tháo rời hàng năm theo luật là; 30% vào năm 2005, 50% năm 2010 và 70% năm 2015. Tỷ lệ tái chế trung bình năm 2005 của nhóm ART là 66% còn ở công ty Toyota và Honđa thuộc nhóm TH tỷ lệ này là 57% và 60%. Nghĩa là cả 2 nhóm đã đạt được mục tiêu năm 2010. Đối với việc xử lý các phụ kiện tháo dỡ, một hệ thống xử lý đã được triển khai đó là lò nấu chảy sử dụng khí đốt ở nhiệt độ cao, tái chế chất thải rắn và sử dụng nhiệt thải để nâng cao tỷ lệ tái chế. Nguồn: Warmer, N0 44, 11/2006 |
||
