Một số kết quả khảo sát, nghiên cứu mới nhất về tai biến địa chất liên quan đến môi trường ở nước ta |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 22/Quản lý môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Tai biến ; Địa chất ; Nghiên cứu ; Khảo sát ; Môi trường |
| Nội dung: | ||
|
Đến nay, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thực hiện 5 đề tài về môi trường, triển khai trên phạm vi cả nước. Một số kết quả khảo sát, nghiên cứu thu được có thể tóm tắt như sau :
- Tỉnh Bắc Cạn : Rất đáng lưu ý là nước sinh hoạt tại thị xã Bắc Cạn được khai thác từ 7 lỗ khoan với chiều sâu trung bình khoảng 30m, bị ô nhiễm nguyên tố Cadimi (Cd) nghiêm trọng, với hàm lượng Cd đạt tới 0,018mg/l, trong khi Tiêu chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam (TCBYT- VN) và WHO là nhỏ hơn 0,003mg/l, (6 lần), với 30% số mẫu được phân tích. Người sử dụng lâu năm nguồn nước này sẽ bị ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và sự tăng trưởng. - Tỉnh Thái Nguyên: đã khoanh định được các diện tích thường xảy ra lũ ống, lũ quét hiện đại ở các xã Mỹ Yên, Hoàng Nông của huyện Đại Từ, nằm ở sườn tây dãy núi Tam Đảo, ô nhiễm đất và nước ở Đại Từ và TP. Thái Nguyên, úng ngập ở khu vực TP. Thái Nguyên và sụt lún đất ở mỏ than Phấn Mễ. - Tỉnh Bình Định: đã xác định được ranh giới nhiễm mặn của tầng chứa nước ngầm ở đồng bằng Quy Nhơn, vào sâu trong đất liền từ 2,0 đến 2,5km. - Tỉnh Phú Yên: sơ bộ xác định được vị trí phân bố nguồn nước có nhiễm nguyên tố độc hại Flo (F) cao, gây bệnh đốm đen và mủn răng trong nhân dân ở xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân. Ngoài ra, một số điểm khác cũng có hàm lượng F cao như : Tuy An (805mg/l), Tuy Hoà (759mg/l). Ô nhiễm Arsen trong nước cũng gặp rải rác ở các huyện Tuy An, Sông Hinh, Đông Hoà và Phú Hoà. Kết quả đo địa vật lý và khoan kiểm tra ở khu vực Phú Lâm - Thị xã Tuy Hoà cho thấy: nước ngầm ở tầng thứ nhất không bị nhiễm mặn, sử dụng tốt, độ sâu thiết kế lỗ khoan khai thác nước ở đây nên dừng ở mức 20-25m. Nước ở tầng thứ hai bị nhiễm mặn đến độ sâu khoảng 75-100m. - Các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận : đáng lưu ý là dải ven biển thường bị nhiễm mặn các tầng chứa nước, độ nhiễm bẩn vi sinh tương đối cao. - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu : các tầng chứa nước ít bị nhiễm mặn hơn các nơi khác, chỉ có nhiễm bẩn vi sinh là chủ yếu. Đây cũng là đặc điểm chung nhất đối với các vùng đồng bằng ven biển nước ta. Một số biện pháp giảm thiểu tai biến địa chất, bảo vệ môi trường - Đối với hiện tượng trượt đất: biện pháp giảm thiểu là công tác dự báo, các biện pháp kỹ thuật, cần trồng cây có rễ, làm lưới sắt bao, đóng cọc, xây kè, giảm tải trọng lớp đất đá bên trên khối trượt, giảm độ dốc taluy đường, độ dốc sườn, làm hệ thống thoát nước trên sườn, có hệ thống tháo nước ở cuối thân trượt, trồng rừng, di dân, làm đường tránh. - Đối với tai biến lũ bùn đá (lũ quét) : các biện pháp giảm thiểu là công tác dự báo, di dân, các biện pháp kỹ thuật như xây đập chắn, trồng cây, làm ruộng bậc thang, tạo rãnh thoát vật liệu ra nơi không có dân. - Đối với hiện tượng sụt lún mặt đất, dự báo cần xác định rõ nơi có nhiều hầm lò, nơi khai thác nước ngầm, nơi có dị thường mật độ phễu, hang động karst, cần có sự điều tiết hoạt động khai thác khoáng sản, có kế hoạch sơ tán, di dân, gia cố kết cấu và nền móng công trình trên nơi có sụt lún. - Đối với tai biến ô nhiễm đất và nước : cần sử dụng chính sách khuyến khích không gây ô nhiễm (không dùng thuốc trừ sâu, thu nhặt phế thải, giáo dục ý thức giữ vệ sinh môi trường), thu gom chất độc hại, khơi thông dòng chảy. Nguồn: Tài liệu Hội nghị INFOTERRA Việt Nam lần thứ III, 10/2006 |
||
