Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Phát triển sạch ở Nepal

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 22/Quản lý môi trường
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Từ khoá : Cơ chế Năng lượng Khí thải Nêpan
Từ khoá chưa kiểm soát : Phát triển sạch
Nội dung:

            Nêpan là một trong những quốc gia đang phát triển có khả năng làm chủ các dự án về Cơ chế phát triển sạch. Hai dự án đầu tiên ở Nêpan hiện nay đã được Ban chấp hành cơ chế phát triển sạch đưa vào danh sách đăng ký.

Nghị định thư (NĐT) Kyoto được phê chuẩn trong Hội nghị Các thành viên lần thứ 3 về Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) vào tháng 12/1997, đặt ra các mục tiêu giảm phát thải có thể định lượng được đối với những nước phát triển bao gồm trong phụ lục 1 của Công ước khung.

Để các quốc gia đạt được những mục tiêu của mình, NĐT đã đưa ra các cơ chế linh hoạt. Bên cạnh việc thương mại phát tán và thực hiện chung, nó được phát triển như một cơ chế riêng để tăng nguồn tài chính cho các nước đang phát triển nhằm khuyến khích các công nghệ sạch, không chỉ giảm phát thải khí nhà kính mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

NĐT Kyoto có hiệu lực vào tháng 2/2005, Cơ chế phát triển sạch và thị trường cácbon được coi như một tổng thể gồm nhiều hoạt động. Gần đây, giảm phát thải đầu tiên được cấp chứng nhận đã được đưa ra và tổng 63 dự án về cơ chế phát triển sạch đã được Ban chấp hành xem xét. Nêpan cũng đưa ra công cụ để tiếp cận NĐT và do đó đáp ứng được yêu cầu đầu tiên về việc tham gia Cơ chế phát triển sạch.

Yêu cầu tham gia tiếp theo là thành lập một Cơ quan quốc gia – Cơ quan thẩm quyền quốc gia (DNA), được giao nhiệm vụ phê duyệt các dự án về cơ chế phát triển sạch trên cơ sở đóng góp của họ vào sự phát triển bền vững của đất nước. Do đó, Cơ quan này đóng vai trò quan trọng trong viêc đánh giá các dự án, đáp ứng một trong 2 mục tiêu chính của Cơ chế phát triển sạch.

Hầu hết các quốc gia ở Mỹ Latinh và châu Á đã lập ra các DNA và một số chuyên gia có kinh nghiệm trong việc đánh giá và phê duyệt các dự án cơ chế phát triển sạch. Gần đây Nêpan đã thành lập DNA theo quyết định của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và do đó đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn này.

Dự án Khuyến khích năng lượng tái tạo, hiệu suất năng lượng và giảm bớt khí nhà kính (PREGA) do Chính phủ Hà Lan tài trợ và được thực hiện bởi Ngân hàng phát triển châu Á tại Nêpan và 15 quốc gia châu Á khác, nhằm tăng những nguồn vốn đầu tư vào các công nghệ năng lượng tái tạo thông qua cơ chế phát triển sạch.

Ở Nepan, dự án này là công cụ thúc đẩy quy trình về cơ chế phát triển sạch thông qua việc xây dựng năng lực cũng như phát triển và trợ giúp dự án. Theo nghiên cứu kiểm kê về khí nhà kính của Nêpan, phát thải CO2, mêtan và NOx thực tế trong năm 1994/95 tương ứng là 9.747(Gg) = 9.747 nghìn tấn, 877 nghìn tấn và 30 nghìn tấn. Phát thải khí nhà kính ở Nêpan không lớn so với các nước khác trên thế giới cũng như trong khu vực.

Việc thay đổi sử dụng đất và hoạt động lâm nghiệp là nguyên nhân gây phát thải CO2 lớn nhất, tương ứng là 22.895 nghìn tấn, đồng thời cũng là lĩnh vực cho phép cô lập cácbon với khối lượng là 14.778 nghìn tấn cácbon. Ngành năng lượng là nguyên nhân gây phát thải CO2 lớn thứ hai với khối lượng 1.465 nghìn tấn và ở đây, giao thông đóng góp phần lớn nhất. Phát thải mêtan từ nông nghiệp thông qua quá trình lên men, canh tác lúa, cũng như quản lý chất thải rắn đều là những nguồn phát thải CO2 lớn ở Nêpan.

Cơ chế phát triển sạch trong lĩnh vực năng lượng

Trong lịch sử, những nguồn năng lượng truyền thống như gỗ nhiên liệu, chất thải động vật và phần phụ trong nông nghiệp được sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu về năng lượng ở Nêpan. Trong thời gian gần đây, việc tiêu thụ năng lượng ở Nêpan không thay đổi nhiều, mặc dù các dạng năng lượng mới ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Năm 2002, tổng mức tiêu thụ năng lượng ở Nêpan là 86%, được cung cấp từ sinh khối. Gỗ nhiên liệu chiếm phần lớn trong hỗn hợp năng lượng, cho thấy mức tiêu thụ này là không bền vững và gây áp lực cho nguồn tài nguyên rừng đang bị cạn kiệt.

Mức tiêu thụ điện năng trong năm 2002 chỉ chiếm 1,47% cho thấy, thực tế việc tiếp cận với nguồn điện vẫn bị hạn chế ở nhiều khu vực thành thị của Nêpan. Dân số ở khu vực nông thôn nằm ở xa mạng lưới điện quốc gia và thậm chí ở một số khu vực, điện được đáp ứng nhưng phần lớn người dân không đủ điều kiện để kết nối. Sản xuất điện ở Nêpan chủ yếu từ thuỷ điện. Tuy nhiên, phần lớn tài nguyên thuỷ điện của đất nước vẫn chưa được khai thác. Do địa hình Nêpan hiểm trở nên việc phát triển mạng lưới điện vẫn còn đắt và khó khăn.

Tiếp cận với năng lượng có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo đói. Thời gian gần đây, nỗ lực đáp ứng nhu cầu năng lượng kết hợp nhằm đạt được các mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong bối cảnh của Nêpan, có thể thấy rõ mối liên quan giữa năng lượng, những mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và Cơ chế phát triển sạch.

Năng lượng tái tạo của Nêpan chiếm 0,48%. Điều này mở cửa cho Cơ chế phát triển sạch phát triển bù vào những thiếu hụt về tài chính, khuyến khích các dạng năng lượng tái tạo và các dạng năng lượng như năng lượng mặt trời, khí sinh học và thuỷ điện siêu nhỏ không chỉ làm tăng khả năng tiếp cận với nguồn điện ở nông thôn mà còn làm giảm mức tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch và nhiên liệu truyền thống ở Nêpan.

Lĩnh vực nhà ở tiêu thụ năng lượng nhiều nhất ở Nêpan, được cung cấp từ hỗn hợp sinh khối, điện và dầu lửa. Do đó, cơ chế phát triển sạch có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sử dụng năng lượng sạch trong gia đình như đun nấu và thắp sáng. Các dự án năng lượng tái tạo và hiệu suất năng lượng nhằm vào các cấp hộ gia đình cũng giúp giảm nghèo đói và đạt được những mục tiêu thiên niên kỷ bằng việc tăng thu nhập – các hoạt động sản xuất, giáo dục, bình đẳng giới, chất lượng môi trường và sức khoẻ ở khu vực nông thôn của Nêpan.

Cơ chế phát triển sạch trong việc giảm phát thải khí mêtan.

Các lĩnh vực nông nghiệp và quản lý chất thải góp phần thải ra khí mêtan lớn nhất do canh tác lúa và quá trình lên men. Những thực tiễn về việc nâng cao công tác quản lý nước và vật nuôi cũng góp phần làm giảm phát thải khí mêtan từ các hoạt động này và triển khai các dự án cơ chế phát triển sạch cũng như quản lý phân động vật nuôi tốt hơn. Cơ chế phát triển sạch trong lĩnh vực nông nghiệp chịu ảnh hưởng của những dự án thu hồi mêtan và quản lý phân bón. Các phương pháp mới phải được thực hiện trong các dự án cải tiến công tác quản lý nước và quản lý thức ăn gia súc.

Quản lý hợp lý chất thải rắn là một thách thức ở các khu vực đô thị. Hầu hết các thành phố tự trị đã đổ chất thải dọc các bờ sông, do đó gây ảnh hưởng đến chất lượng nước sông. Ở Nêpan có hai điểm chôn lấp chất thải đang hoạt động và một bãi chôn lấp dự kiến tiếp tục đưa vào hoạt động. Khí thải ở bãi chôn lấp, là nguồn phát thải mêtan chính không được luật trong nước quy định. Một trong những hoạt động dự án phổ biến nhất theo cơ chế phát triển sạch là quản lý khí thải ở bãi chôn lấp. Vì vậy, hoạt động tài chính trong lĩnh vực quản lý chất thải ở Nêpan có khả năng mang lại lợi ích. Những yêu cầu đầu tư trả trước lớn, thiếu hiểu biết về công nghệ, tạo ra những rào cản mang tính cục bộ cho các hoạt động của dự án, nơi cơ chế phát triển sạch có thể góp phần tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho các dự án.

Cơ chế phát triển sạch trong việc sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng và lĩnh vực lâm nghiệp

Các hoạt động của dự án về sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng và lĩnh vực lâm nghiệp trong giai đoạn cam kết đầu tiên được giới hạn rõ trong các hoạt động trồng cây gây rừng và tái trồng rừng. Tuy nhiên, trong phạm vi cơ chế phát triển sạch, đây là lý do gây tranh cãi do những vấn đề như không đảm bảo về mặt khoa học, phương pháp chưa thích hợp và không minh bạch. Biện pháp trồng cây gây rừng và tái trồng rừng đầu tiên gần đây đã được Ban chấp hành cơ chế phát triển sạch phê duyệt. Theo Nghiên cứu kiểm kê của quốc gia về khí nhà kính, một lượng lớn khí CO2 có thể được hấp thụ bởi sinh khối. Các dự án trồng cây gây rừng và tái trồng rừng có thể giúp vượt qua một số rào cản trước đây của Nêpan

Triển khai dự án cơ chế phát triển sạch ở Nêpan

Các dự án về khí sinh học là những dự án cơ chế phát triển sạch đầu tiên ở Nêpan. Đó là những dự án có quy mô nhỏ, liên quan đến việc xây dựng một số nhà máy khí sinh học trong nước. Thu nhập từ cácbon thông qua những dự án này sẽ được sử dụng vào lĩnh vực sản xuất khí sinh học, một hoạt động thương mại trong nước có thể tự duy trì khi những trợ cấp và trợ giúp của các nhà tài trợ giảm xuống. Dự án khí sinh học là một ví dụ điển hình mang lại một số lợi ích cho các gia đình ở nông thôn trong khi giảm được những phát thải khí nhà kính.

Khí sinh học thay thế cho các nhiên liệu hoá thạch và củi được sử dụng vào các mục đích đun nấu và thắp sáng ở các gia đình nông thôn và cung cấp nguồn năng lượng sạch, tận dụng các nguồn tài nguyên địa phương, tạo điều kiện sống tốt hơn cho người dân ở nông thôn. Việc thay thế khí sinh học trong các gia đình nông thôn cũng làm giảm nỗi cực nhọc cho phụ nữ và trẻ em liên quan tới việc thu gom củi. Do đó, trẻ em sẽ có nhiều thời gian đến trường hơn. Có thể sử dụng những khoản tiết kiệm ngày càng tăng do không phải mua các nhiên liệu hoá thạch để tạo ra những sinh kế khác.

Dự án PREGA ở Nêpan đang triển khai những ý tưởng, các tài liệu thiết kế dự án và những nghiên cứu trước khả thi đối với một số hoạt động của dự án Cơ chế phát triển sạch tiềm năng. Dự án PREGA không chỉ là công cụ trong việc triển khai dự án mà còn là công cụ trong các hoạt động quan trọng khác có liên quan như xây dựng và cấp vốn thông qua nghiên cứu và tham khảo chung để lập ra DNA ở Nêpan. Một số hội thảo đào tạo, hướng dẫn, nâng cao thức về cơ chế phát triển sạch trong các lĩnh vực quan trọng như cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan tài chính và cơ quan chính quyền. Hội chợ cácbon cũng được tổ chức như một nội dung của dự án, cho phép các nhà triển khai dự án trong nước tiếp cận với người mua và những người phê duyệt dự án để hiểu rõ hơn quá trình của cơ chế phát triển sạch.

Những thách thức đối với Nêpan

Phát thải khí nhà kính ở Nêpan không lớn. Tuy nhiên, do nhận thức về thách thức toàn cầu và sự nguy hiểm về biến đổi khí hậu, Nêpan đã trở thành thành viên của Hiệp ước khí hậu và NĐT Kyoto. Về mặt lý thuyết, Cơ chế phát triển sạch được hiểu là cơ chế phát triển bền vững một cách toàn diện, có ảnh hưởng đến những nước đang phát triển như Nêpan, trong khi cũng giảm được những phát thải khí nhà kính. Phát triển kinh tế là một nhu cầu cấp bách đối với Nêpan và Cơ chế phát triển sạch thúc đẩy phát triển sạch hơn và bền vững hơn. Tuy nhiên, chúng ta nên quan tâm đến những thách thức, rủi ro và những thay đổi trong cơ chế. Cơ chế phát triển sạch được triển khai theo cơ chế thị trường. Thách thức đầu tiên đối với một nước nhỏ, kém phát triển như Nêpan đó là khả năng cạnh tranh trên thị trường này. Sự tăng khả năng cạnh tranh thể hiện sự phát triển lành mạnh của dự án cơ chế phát triển sạch trong nước. Việc tiêu thụ nhiên liệu truyền thống dưới dạng củi và hoạt động chặt phá rừng là vấn đề ở hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Nêpan. Các dự án như khí sinh học và các loại bếp đun cải tiến nan giải ở Nêpan sẽ thay cho việc tiêu thụ củi ở các vùng nông thôn. Điều này gây nên thách thức lớn hơn đối với Nêpan, nơi phần lớn năng lượng được cung cấp từ củi. Cơ chế phát triển sạch có thể là bước chuyển từ nguồn năng lượng truyền thống sang năng lượng sạch, tránh nhu cầu sử dụng các nhiên liệu hoá thạch.

Vấn đề cơ chế phát triển sạch có mang lại những lợi ích thực sự về phát triển bền vững cho các nước chủ nhà hay không là vấn đề cần được thảo luận nhiều trên các diễn đàn quốc tế. Xu hướng hiện nay của các dự án và lợi ích của những người mua tín dụng là các dự án lớn có thể giảm được một lượng phát thải lớn. Hầu hết những dự án hiện nay tập trung vào quy trình xử lý công nghiệp và việc giảm thiểu các khí thải công nghiệp, loại khí có khả năng làm nóng lên toàn cầu.

Hầu hết các dự án về cơ chế phát triển sạch ở Nêpan có quy mô nhỏ, với mục đích phân phối các dịch vụ năng lượng tái tạo đến các hộ gia đình ở nông thôn. Các dự án như dự án khí sinh học, dự án thắp sáng, cải tiến các bếp lò, dự án thuỷ điện nhỏ và dự án nâng cấp các nhà máy nước là những dự án có thể góp phần giảm nghèo đói, cải thiện sinh kế, sức khoẻ, giáo dục ở vùng nông thôn. Đây là những dự án cấp cơ sở, góp phần đáng kể vào sự phát triển bền vững của Nêpan.

Nguồn: Tiempo, 7/2006

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia