Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Tài nguyên nước bị suy giảm

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 21/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương
Từ khoá : Tài nguyên nước Suy giảm
Nội dung:

Tài nguyên nước mặt của Việt Nam tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lưu lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Trong khi đó, diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% thế giới.

Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hằng năm của nước ta bằng khoảng 847km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%). Hệ thống sông Ðồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, sông Cả và sông Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, sông Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%).

Một đặc điểm quan trọng nữa ở nước ta là khoảng 60% nước sông được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài. Trong đó, hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất 447 km3 (88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất 81,3 km3, chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông 53 km3 (15,6%), hệ thống sông Ðồng Nai 32,8 km3 (9,6%).

Mặc dù nước ta có nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng.

Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thủy vực..v..v..làm cho nguồn nước bị ô nhiễm và cạn kiệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trở nên trầm trọng, nhất là vào mùa khô ở các vùng ít mưa, tình hình này đã đặt ra những thách thức lớn cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội trong hiện tại và tương lai của đất nước.

Ở Việt Nam, lượng nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8.500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức nước hiện nay của nước ta lớn hơn 2,7 lần so với châu Á (3.970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7.650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đồng đều giữa các vùng.

Mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5.000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và chỉ đạt 2.980 m3/người ở hệ thống sông Ðồng Nai. Theo Hội Nước quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới 4.000 m3/người thì nước đó được xếp vào loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2.000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Ðồng Nai. Trong đó, một lượng nước đáng kể được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao trong phần lãnh thổ đó.

Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm.

Sự gia tăng dân số dẫn đến gia tăng nhu cầu nước sạch cho ăn uống và sản xuất. Ðồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả  nghiêm trọng.

Nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp cũng sẽ tăng lên mạnh mẽ ở tất cả các khu vưc. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy của năm, tương ứng với tần suất là 75%, tăng 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng cho tưới tiêu khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%). Vào mùa cạn, lượng nước cần dùng rất lớn, nhất là trong nông nghiệp, năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%.

Đến năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Ðặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất.

Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,5 độ C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tùy theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,5 độ C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,5 độ C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xảy ra ở Nam Trung Bộ và Ðông Nam Bộ.  Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1.700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe dọa và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt.

Nguồn: Nhân dân, 01/11/2006  



 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia