Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Quản lý chất thải ở Bungari

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 21/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87.53 Chất thải. Quản lý và sử dụng chất thải, công nghệ ít chất thải và không chất thải
Từ khoá : Chất thải Quản lý Bungari
Nội dung:

Bộ Môi trường và Nước Bungari (MOEW) đã thực hiện đánh giá chiến lược môi trường (SEA) thuộc Chương trình hành động môi trường của Bungari (OPE) giai đoạn 2007 – 2013. Nghiên cứu này đã cụ thể hóa những con số thống kế về quản lý chất thải trong nước đã được cam kết trong chính sách và hành động thực tế của họ để đáp ứng các tiêu chuẩn của châu Âu.

Việc thu gom chất thải đô thị có tổ chức đạt 84,2% trong dân, gồm hầu hết cư dân ở các thành phố, trong khi ở các làng quê chỉ chiếm gần 40%. Việc phân loại và tái chế chất thải triển khai vẫn còn chậm.

Chôn lấp chất thải là biện pháp để xử lý chất thải đô thị, biện pháp cơ bản cho tất cả các loại chất thải khác, chiếm 86,5% chất thải phát sinh. Phần lớn các bãi chôn lấp không tuân theo quy định và gây rủi ro cao cho sức khoẻ. Vẫn còn tới hơn 1500 bãi đổ chất thải bất hợp pháp. Việc ủ phân và thu hồi năng lượng ở Bungari còn ít.

Phát sinh chất thải

Giữa năm 2001-2004, lượng chất thải phát sinh trung bình ở Bungari là 13,45 triệu tấn. Đến giai đoạn 2000-2004, khối lượng chất thải rắn đô thị được thu gom đã giảm xuống, mặc dù một phần dân số được đáp ứng các dịch vụ tăng lên 6%.

Phát sinh chất thải rắn đô thị  trên đầu người trong năm 2004 là 472 kg; dưới mức trung bình của EU-25 là 537 kg và thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của EU-15 là 580 kg. Lượng chất thải rắn đô thị được thu gom trong năm 2004 là 3,09 triệu tấn, ít hơn năm 2003 là 4%.

Thu gom chất thải   

Cuối năm 2004, 84,2% dân số Bungari được đáp ứng bởi hệ thống thu gom chất thải đô thị có tổ chức, nhiều hơn 5,6% so với năm 2000. Trong năm 2004, các hệ thống hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải đô thị này đáp ứng 1801 khu dân cư, với số dân là 6.551.181 người, chiếm 84% dân số cả nước. Ở các thành phố, hệ thống thu gom chất thải có tổ chức đáp ứng gần 100% dân số, nhưng ở các làng quê chỉ chiếm dưới 40% dân số được đáp ứng.

Từ năm 2004, MOEW bắt đầu cung cấp tài chính cho các hệ thống thu gom  riêng chất thải là bao gói ở đô thị. Năm 2004, các dự án thí điểm được tài trợ ở 12 thành phố tự trị, 4 tổ chức thu hồi chất thải bao gói được cấp phép và tổng số lượng các thùng đóng gói đưa ra thị trường là 446 nghìn tấn.

Chất thải bao gói phát sinh từ các hộ gia đình và lĩnh vực thương mại chiếm tỷ lệ  từ 41% đến 59%. Mức tiêu thụ các bao bì đóng gói tính theo đầu người năm 2004 là 57,47kg. So với các nước châu Âu khác, số lượng này là thấp và liên quan chặt chẽ với mức tiêu thụ trong nước.

Việc thu gom chất thải nguy hại để tái chế bị hạn chế bởi việc thu mua lại các pin chì-axít, các sản phẩm dầu và dầu thải đã sử dụng. Hệ thống thu gom một số nhóm chất thải đặc biệt nguy hại như đèn huỳnh quang, ác qui, chất thải hoá học kích thước nhỏ…chưa hoàn chỉnh.   

Thiêu đốt

Ở Bungari, thiêu đốt chất thải không phải là biện pháp phổ biến. Hiện nay chưa thành thông lệ phổ biến, chưa có thiết bị thiêu đốt chất thải đô thị. Biện pháp thiêu đốt chỉ được sử dụng đối với chất thải y tế. Năm 2004, khoảng 1810 tấn chất thải y tế được xử lý tại 2 lò thiêu đốt chất thải nguy hại ở Sofia. Các thiết bị thiêu đốt chất thải ở thành phố cảng Varna xử lý chất thải tổng hợp từ các tàu đến.

Chất thải xanh và gỗ được đốt trong các nồi hơi bằng nhiên liệu rắn. 91% chất thải công nghiệp đặc biệt của ngành công nghiêp chế biến gỗ chủ yếu được sử dụng làm nhiên liệu, 3% được ép thành than bánh và 6% được ủ phân. Quá trình thiêu đốt  đông thời được áp dụng trong các hệ thống thiêu đốt công nghiệp ở 5 nhà máy xi-măng - Tổng khối lượng chất thải đốt để thu hồi năng lượng tại các nhà máy là 2602 tấn.

Xử lý cơ học

 Ở một số bãi chôn lấp của một vài thành phố tồn tại các trạm trung chuyển và các tuyến phân loại chất thải. Cơ sở xử lý chất thải đô thị hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao trong tổng các cơ sở xử lý chất thải. Tổng lượng chất thải khác có thể tái chế như  nhựa, thuỷ tinh, gỗ và các loại vải chỉ chiếm khoảng 2% chất thải được xử lý cơ học. Việc xử lý sơ bộ chất thải có khả năng phân huỷ sinh học là không đáng kể.

Xử lý hoá học và lý học

Xử lý hoá học và lý học chủ yếu được áp dụng đối với chất thải có chứa kim loại (khoảng 90%). Gần đây, người ta quan tâm đến việc xử lý các dầu thực vật dùng trong gia đình và điêzen sinh học được sản xuất từ các loại chất thải này. Cô-ta cho loại “nhiên liệu sinh thái” này đã được thiết lập. Ở Bungari, một hệ thống xử lý theo phương pháp này với công suất hơn 10 tấn/năm đã được lắp đặt vận hành.

Tái chế   

Theo ước tính, tổng công suất tái chế chất thải giấy và bìa các-tông khoảng 200.000  tấn/năm. Các cơ sở xử lý trong nước chủ yếu từ ngành công nghiệp bột giấy và giấy. Trong năm 2004, khoảng 82.000 tấn giấy được tái chế.

Việc xử lý chất thải nhựa được tập trung ở 3 nhà máy lớn trong nước với công suất khoảng 12.000 tấn/năm. Khối lượng thực tế chất thải được xử lý thấp hơn nhiều so với công suất và quá trình xử lý hoàn toàn tập trung vào các vật liệu dạng lá với khối lượng khoảng 5400-7200 tấn/năm. Trong năm 2004, việc lắp đặt hệ thống tái chế chất thải có công suất 12000 tấn/năm đã đi vào hoạt động.  

Thuỷ tinh thải được xử lý tại 6 nhà máy trong nước. Khối lượng chất thải thuỷ tinh được xử lý hàng năm là khoảng 15000 tấn/năm. Cơ sở hạ tầng cần thiết để phân loại, tách và xử lý chất thải thuỷ tinh ở Bungari hiện không còn tồn tại. Trong năm 2004, hệ thống  các nhà máy xử lý đã tái chế được 33.500 tấn thuỷ tinh thải.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật để xử lý chất thải từ các ắcquy được xây dựng ở Bungari. 3 xí nghiệp có hệ thống xử lý chất thải ắcquy với công suất khoảng 23.000 tấn/năm.

Trong năm 2003, hai công nghệ xử lý vỏ lốp đã qua sử dụng được đưa vào hoạt động với tổng công suất là 4 tấn/giờ. Chỉ có một nhà máy được phép thu hồi dầu thải. Với công suất hiện nay 5000 tấn/năm, không cho phép tái chế toàn bộ lượng chất thải này.

Theo số liệu của các nhà sản xuất, tái chế trở thành biện pháp xử lý chất thải là bao gói được sử dụng rộng rãi, chiếm 23% tổng lượng chất thải trong năm 2004. Tổng 101.651 tấn chất thải bao gói được xử lý trong năm 2004, trong đó có 100.610 tấn được tái chế, 47 tấn thu hồi năng lượng và 995 tấn được chôn lấp. Cuối năm 2004, đã có:

·           177 trạm thu gom chất thải bao gói khác nhau

·           98 trạm thu gom ắcquy hỏng

·           12 trạm thu gom dầu thải và 20 trạm thu gom thiết bị điện và điện tử gồm các đèn huỳnh quang và các loại bóng đèn khác có chứa thuỷ ngân.

Việc ủ phân và thiêu đốt chất thải để thu hồi năng lượng chưa phải là biện pháp phổ biến rộng rãi ở Bungari.

Chôn lấp chất thải

Việc chôn lấp chất thải hiện nay vẫn chỉ là biện pháp để xử lý chất thải đô thị trong nước và là biện pháp cơ bản cho tất cả các loại chất thải khác. Trong năm 2004, 86,5% tổng lượng chất thải phát sinh được đem đi chôn lấp. Có 663 bãi chôn lấp dành cho chất thải đô thị, chiếm 780 hécta, đây là nơi chôn lấp 3,1 tấn chất thải đô thị. Trong sớ các bãi chôn lấp này, có 59 bãi chôn lấp đáp ứng nhu cầu của các khu dân cư với số dân là hơn 20.000 người, chiếm 70% dân số của cả nước.

Theo những cam kết mà Bungari đã thực hiện, liên quan đến chỉ thị 1999/31, đến ngày 16/7/2009, cần xây dựng hệ thống gồm 54 bãi chôn lấp (là các bãi chôn lấp trong khu vực) và sửa chữa lại các bãi chôn lấp đang tồn tại và xây dựng các bãi chôn lấp mới trong khu vực để xử lý toàn bộ khối lượng chất thải đô thị được thải ra.

Đến cuối năm 2004, Bungari đã xây dựng và đưa vào hoạt động 20 bãi chôn lấp chất thải đô thị trong khu vực, 12 bãi đang xây dựng và còn lại đang trong các giai đoạn chuẩn bị xây dựng khác nhau.


Những công cụ luật pháp và kinh tế

Luật bảo vệ môi trường (EPA) và Luật quản lý chất thải (WMA) cùng với quy định có liên quan là các quy định pháp lý cơ bản trong lĩnh vực quản lý chất thải ở Bungari. Năm 2003, Chương trình quản lý chất thải quốc gia (NWMP) 2003 – 2007 đã được triển khai thực hiện. 

Những thành phố tự trị chịu trách nhiệm triển khai các Chương trình quản lý chất thải rắn đô thị theo mục tiêu xác định bởi Luật quản lý chất thải. Những yêu cầu cụ thể về quản lý chất thải cấp địa phương được đưa vào trong các quy định, đề ra thủ tục pháp lý và những thuật ngữ về quản lý chất thải đô thị, chất thải xây dựng và các chất thải khác. Các quy định cũng xác định lệ phí đối cho địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ tương ứng.

Áp dụng quan điểm “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, hội đồng các thành phố ở Bungari đã đề ra phí “chất thải đô thị” theo quy định tại Luật thuế và phí của địa phương. Hàng năm do Hội đồng thành phố quy định phí cho từng khu dân cư.

Theo Luật quản lý chất thải Bungari, các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu sản phẩm phải có trách nhiệm thu gom,  thu hồi và xử lý chất thải từ các sản phẩm sau khi sử dụng.

Để thực hiện những nghĩa vụ của mình, các nhà sản xuất và nhập khẩu có thể chọn 2 phương pháp thay thế:  

·           Những sản phẩm được đưa vào thị trường và các cơ sở phát thải trả cho Cơ quan quản lý hoạt động bảo vệ môi trường (EMEPA) các khoản tiền thu được từ những dự án tài chính để thu gom và thu hồi chất thải.

·           Các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu chất thải có thể tổ chức và cung cấp tài chính cho việc thu gom ( để đạt được những mục tiêu thu hồi và tái chế); các hoạt động được thực hiện riêng lẻ hoặc thông qua các hệ thống thu gom, như một tổ chức thu hồi chất thải. Trong trường hợp này, không phải trả  phí sản phẩm.

Nguồn: Warmer Bulletin, 9/2006


 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia