Quản lý nước tổng hợp, vấn đề cốt lõi để làm sạch các đại dương |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 21/Môi trường toàn cầu |
| Đề mục | : | 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương |
| Từ khoá | : | Đại dương ; Làm sạch ; Quản lý nước |
| Nội dung: | ||
|
Hội nghị quốc tế chống nước thải, thuốc trừ sâu và các dạng ô nhiễm khác từ đất liền đổ vào các biển và đại dương đã được tổ chức vào ngày 16/10/2006 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Tham dự Hội nghị có khoảng 700 đại biểu từ 115 quốc gia nhằm đề ra một lộ trình mới cho Chương trình hành động toàn cầu (CTHĐTC) Bảo vệ môi trường biển khỏi các nguồn ô nhiễm từ đất liền - một sáng kiến của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP). Veerle Vandeweerd, điều phối viên CTHĐTC của UNEP, cho rằng: “Khu vực châu Á là nơi hội tụ các thách thức và cơ hội mà cộng đồng thế giới đang phải đối mặt để làm cân đối giữa phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo với các yếu tố xã hội và môi trường. Nhiều kết quả đã đạt được trong việc chống ô nhiễm biển và nhận thức về chống ô nhiễm biển của các nước được nâng cao. Tuy nhiên, những thành công này lại đang bị lấn át bởi bùng nổ dân số, tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh cùng với một loạt áp lực tới các vùng ven biển gia tăng. Do vậy, chính phủ các nước cần phải khẩn trương và từng bước hành động nhằm giảm ô nhiễm từ đất liền. Mặt khác, tốc độ phát triển nhanh sẽ phải trả giá vì làm mất và gây thiệt hại đối với những nơi cư trú quan trọng có giá trị kinh tế, các hệ sinh thái và tài nguyên trên các dải ven biển và rạn san hô cho đến rừng ngập mặn và ngư trường cá”. Theo bà Veerle, kết hợp quản lý các vùng nước ngọt bao gồm sông hồ với nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm bờ biển hiện nay là một trong những đề xuất quan trọng của báo cáo. Bên cạnh sự ô nhiễm biển trực tiếp bắt nguồn từ các thành phố và cơ sở công nghiệp nằm trên bờ biển, có khối lượng các chất ô nhiễm đáng kể xuất phát đất liền đi qua các sông và các nguồn nước ngọt khác đổ vào biển. Các kết quả quan trọng khác được nêu trong báo cáo bao gồm các cam kết hướng tới liên kết và hợp tác chặt chẽ hơn giữa chính phủ các nước với xã hội dân sự, chính quyền địa phương, công ty tư nhân và các tổ chức phi chính phủ. Điều phối viên CTHĐTC cho rằng: “Giải quyết vấn đề ô nhiễm biển là trách nhiệm chính của chính phủ các nước, đồng thời còn là trách nhiệm của toàn xã hội từ công ty tư nhân cho đến chính quyền địa phương. Chúng ta cần có tất cả các đối tượng này tham gia thực hiện quá trình làm cho biển sạch và lành mạnh hơn”. Lịch sử thành công CTHĐTC ra đời cách đây 10 năm, thể hiện cam kết ngày càng vững chắc của chính phủ các nước và các nhà tài trợ trong việc đấu tranh chống các nguồn ô nhiễm từ đất liền. Cho đến nay, hơn 60 nước đã triển khai các chương trình hành động quốc gia, trong đó một số chương trình đề cập tới việc xem xét hoặc ban hành các luật mới bao gồm các lĩnh vực về chính sách đối với vùng ven biển, chính sách về nước và quản lý tổng hợp vùng ven biển. Ví dụ như Bănglađét, Barbado, Costa Rica, Ấn Độ và Philipin. Công tác khôi phục và bảo tồn rừng ngập mặn – các hệ sinh thái ven biển quan trọng đóng vai trò như là các “vườn ươm” cá và bộ lọc ô nhiễm tự nhiên – đang diễn ra ở các nước như Bănglađét, Ấn Độ, Nigêria và Sri Lanka. Ngoài ra, nhiều nước cũng đang tăng thêm ngân sách quốc gia dành cho các nội dung liên quan tới CTHĐTC. Chẳng hạn, năm 2005, Ấn Độ đã chi hơn 120 triệu USD từ khoản tiền 700 triệu USD của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á hỗ trợ. Các quỹ hỗ trợ được rót vào từ nhiều nguồn khác nhau. Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) đã đầu tư 1,2 tỷ USD trợ giúp các nước đang phát triển đáp ứng những thách thức môi trường, thông qua chương trình thuỷ vực quốc tế xúc tác cùng đầu tư một khoản tiền có giá trị tương tự. Các nguyên tắc của CTHĐTC đều được các cơ sở công nghiệp và doanh nghiệp chủ chốt tán thành kể cả Hội các Công ty Quốc tế, Hội nạo vét trung tâm và Hội cảng và bến cảng quốc tế. Các luật mới hay Nghị định thư nhằm xử lý các nguồn ô nhiễm từ đất liềnđã được giới thiệu hoặc đã được xem xét bởi một số chương trình về biển trong khu vực bao gồm Biển đen, biển Caspia, Công ước Nairobi bao trùm khu vực Đông Phi và Công ước Abidjan về 18 nước ở Tây và Trung Phi. Chương trình hành động toàn cầu đã nhận được sự hỗ trợ của GEF để xúc tiến thành lập các quỹ đầu tư nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chống ô nhiễm từ đất liền. Hiện nay, một quỹ trị giá 400 triệu USD dành cho các biển ở Đông Á; quỹ 380 triệu USD cho Địa Trung Hải và một quỹ nữa 400 triệu USD dành cho Biển Đen và sông Danube. Những thách thức mà nhiều nước đang phải đối mặt kể cả các nước ở châu Á được nhấn mạnh trong báo cáo với tiêu đề “Hiện trạng Môi trường Biển” được soạn thảo cho chính phủ các nước tham dự hội nghị. Ở châu Á, báo cáo nêu bật vấn đề nước thải, và sự phát triển vùng ven biển như là những mối đe dọa chủ yếu đang rình rập các vùng biển trong khu vực. Nước thải Khả năng xử lý nước thải đổ ra biển là khác nhau. Ở các vùng biển Đông Á, gần 90% lượng nước thải chưa được xử lý được xả từ đất liền vào môi trường biển. Ở Trung Quốc, ước tính 25% nước thải được xử lý. Ở Nhật Bản, vào những năm 1990, tỷ lệ dân số có hệ thống thoát nước thải chiếm chưa đến 60%. Trái lại, ở Hàn Quốc, quy mô xử lý nước thải giữ ở mức gần 70%. Tuy nhiên, tại nhiều vùng nông thôn của nước này, tỷ lệ nước thải được xử lý lại thấp hơn chỉ chiếm khoảng 10%. Khả năng xử lý nước thải theo báo cáo ở châu Á nhìn chung là thấp. Ví dụ, ở Mumbai, Ấn Độ, khoảng 15% và ở Karachi, Pakistan xấp xỉ 6%. Hơn nữa, nhiều nhà máy công nghiệp lớn xả ra khối lượng đa dạng chất ô nhiễm cùng với nước thải và các loại chất thải khác. Một ví dụ điển hình là ở Ankleshwar, Ấn Độ nơi chất thải lỏng bị cuốn trôi xuống cống rãnh và kênh mương khi trời mưa rồi đổ xuống sông và vùng ven biển. Tình trạng nêu trên là đặc điểm chung của khu vực lân cận các tiểu thành phố công nghiệp ven biển ở Bănglađét, Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka. Dưỡng chất Các mô hình sử dụng đất truyền thống đang thay đổi vì tăng trưởng kinh tế không ngừng dẫn tới việc sử dụng nhiều phân bón cùng với các nguồn ô nhiễm như nước thải và chất thải động vật đang làm gia tăng tải lượng chất dinh dưỡng trong các thuỷ vực ven biển. Dưỡng chất có thể gây ra hàng chuỗi tác động bao gồm việc thúc đẩy một số loại tảo độc nở hoa và sự hình thành các khu vực thiếu ôxy ở biển còn gọi là các “vùng chết”. Sông chảy qua Campuchia, Trung Quốc, Malaixia, Thái Lan và Việt Nam thải ra ít nhất 637000 tấn chất dinh dưỡng vào các thuỷ vực ven biển thuộc dải Sunda. Theo báo cáo, hơn 50% khối lượng chất thải này bắt nguồn từ Trung Quốc cùng với khoảng 1/5 khối lượng đến từ Việt Nam và Thái Lan Các biển Bắc Hải, Hoàng Hải và biển đông Trung Quốc năm 1999 đã tiếp nhận tổng số 1500 tấn nước thải công nghiệp gồm có các dưỡng chất như nitơ và phốt pho từ 12 thành phố lớn ven biển của Trung Quốc. Năm 2001 đã diễn ra gần 80 sự kiện thủy triều đỏ gây ảnh hưởng tới 15000 km2 thuỷ vực ven biển. Chất ô nhiễm hữu cơ tồn lưu Chưa có dữ liệu cụ thể về nồng độ. Dầu mỏ Hơn 50% ô nhiễm dầu ở các vùng biển Nam Á là do số lượng lớn tàu thuyền thường xuyên đi lại gây ra. Nhiều nguồn dầu mỏ và chất ô nhiễm độc hại khác là các kho phá dỡ tàu lớn ở các nước như Bănglađét, Ấn Độ và Pakistan. Ở Ấn Độ, việc phá dỡ tàu được tiến hành cách bờ biển Alang ở Gujarat 10 km. Tàu thuyền cũng là nguồn ô nhiễm dầu mỏ chủ yếu ở vùng Đông Á. Tại các khu vực nguy hiểm bao gồm Biển Đông và Eo biển Malacca. Các thử nghiệm tại eo biển này đã phát hiện thấy nồng độ hyđro cácbon xung quanh các đảo Brintam và Batam ở mức có thể gây tổn hại cho các dạng đời sống biển. Ước tính 30% số “bóng dầu” trên bờ biển thuộc bán đảo Malaixia là do dầu mỏ sinh ra từ Trung Đông thể hiện mối liên hệ giữa sự vận chuyển của tàu chở dầu với ô nhiễm. Ở Vịnh Thái Lan, nguồn ô nhiễm dầu chính là từ các thành phố, nhà máy lọc dầu và nhiều cơ sở công nghiệp khác. Chất lắng cặn Hai phần ba tổng số chất lắng cặn của thế giới đổ vào các đại dương được phát hiện ở Đông Nam Á. Ở Inđônêxia, Malaixia, Philippin và Thái Lan, nạn phá rừng diễn ra trên hơn 50000 km2 rừng làm gia tăng xói mòn đất và tải lượng chất lắng trên các tuyến đường thuỷ. Các nghiên cứu ở Philippin và Inđônêxia cho thấy, thiệt hại đối với các rạn san hô do quá trình bồi lắng trầm tích mà phá rừng gây ra nhiều hơn thiệt hại kinh tế của việc đốn gỗ. Ở vùng châu thổ sông Mahakam, khoảng 2 triệu m3 lắng cặn được nạo vét để duy trì hoạt động giao thông đường thuỷ nguyên nhân do nạn phá rừng quá mức gây ra lắng đọng bùn trong nội vùng Kalimantan. Sau Amazon, hệ thống sông Ganges-Brahmaputra-Meghna là khu vực thuỷ học lớn thứ hai thế giới. Lượng chất lắng cặn đổ vào Vịnh Bengal lớn nhất thế giới. Sự thay đổi tự nhiên và phá huỷ nơi cư trú Sự suy thoái của những cánh rừng ngập mặn được xem là vấn đề nghiêm trọng ở Bănglađét, Ấn Độ và Pakistan do các tác động của khai thác gỗ cho tới phát triển ven biển. Điều đáng quan tâm là dự án liên kết sông ở Ấn Độ có thể tác động tới lưu lượng dòng chảy ở Bănglađét và rừng ngập mặn Sunderban. Xói mòn ven biển lan rộng. Ví dụ, ở Malaixia, tình trạng này đã ảnh hưởng tất cả các bang và gần 1/3 đường bờ biển của nước này bị xói lở. Khoảng từ 1/5 đến 1/4 diện tích thảm cỏ biển ở Inđônêxia, Malaixia, Philippin và Thái Lan đã bị tàn phá bởi tác động của việc phát quang các khu nuôi cỏ biển thương mại, ô nhiễm, lắng đọng trầm tích và nạo vét sông. Dân số ở vùng ven biển của Campuchia, Trung Quốc, Malaixia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam, mỗi năm thải ra hơn 66 triệu tấn chất thải rắn và chất thải ở biển đang trở thành vấn đề nan giải. Nguồn: UNEP, 16/10/2006 |
||
