Hà Nội đối mặt với những thách thức về ô nhiễm môi trường |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 19/Chất thải và môi trường |
| Đề mục | : | 87.15 Ô nhiễm môi truờng. Kiểm soát ô nhiễm |
| Từ khoá | : | Ô nhiễm môi trường ; Hà Nội |
| Nội dung: | ||
|
Những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã và đang đô thị hóa, công nghiệp hóa với tốc độ rất nhanh, kéo theo môi trường ở đây bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng. Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất Hà Nội cho biết lượng nước thải của Thành phố đang ngày càng tăng cả về lượng và nồng độ các chất ô nhiễm. Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý, đổ thẳng ra sông, hồ và dự báo đến năm 2010 là 510.000 m3/ngày. Qua số liệu quan trắc, môi trường nước ở 4 sông và một số hồ ở Hà Nội đã bị ô nhiễm tới mức báo động, nhất là ô nhiễm các chất hữu cơ, nước sông đã bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm không khí xung quanh một cách trầm trọng. Các mẫu nước sông được quan trắc trong năm 2004 có nồng độ BOD, COD cao hơn từ 7 -10 lần so với nồng độ của các mẫu được quan trắc trong năm 1994. Dự báo, nếu tình trạng vẫn diễn ra như hiện nay thì đến năm 2020, mức ô nhiễm môi trường nước của các sông nội thành Hà Nội sẽ tăng gấp 2 lần hiện nay. Cũng theo đánh giá của cơ quan chức năng, lượng chất thải rắn trên địa bàn Thành phố phát sinh ngày càng lớn, tính độc hại ngày càng tăng, công tác quản lý chất thải rắn chưa đáp ứng yêu cầu. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh khoảng từ 1.500 - 1.600 tấn/ngày, chất thải công nghiệp nguy hại khoảng từ 24.000 - 25.000 tấn/năm. Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt mới đạt tối đa là 80%, chất thải y tế đạt trên 90% và tỷ lệ thu gom đối với chất thải rắn nguy hại còn thấp; công tác phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng còn bất cập, xã hội hóa quản lý chất thải rắn còn ở tình trạng manh mún với tỷ lệ chôn lấp chất thải rắn quá lớn. Môi trường không khí Hà Nội bị ô nhiễm bụi rất nặng, ô nhiễm các khí độc hại đã xảy ra cục bộ. Nồng độ bụi tăng gấp 1,5 đến 3 lần tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt ở các khu đô thị đang diễn ra thi công xây dựng, sửa chữa công trình và đặc biệt ở một số đường giao thông vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng thì nồng độ bụi cao gấp 7 đến 10 lần; nồng độ khí CO2 và hơi xăng dầu ở một số nút giao thông đã vượt tiêu chuẩn cho phép, xung quanh các khu cụm công nghiệp cũ đã bị ô nhiễm khí SO2 và NO2 cục bộ. Theo GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng (trường Đại học Xây dựng Hà Nội), để giảm bớt tình trạng ô nhiễm, ở tất cả các khu đô thị mới, các khu công nghiệp đều phải tách nước thải riêng và có trạm xử lý nước thải tập trung cục bộ; đồng thời có thể áp dụng công nghệ xử lý nước thải phân tán để cải tạo các bể phốt của các nhà chung cư cũ của Hà Nội và áp dụng cho tất cả các nhà xây chen, cải tạo ở các khu phố cũ. Ngoài ra, Hà Nội có thể áp dụng công nghệ sinh học, bãi ướt, bãi lọc ngầm để xử lý nước thải ở hồ Yên Sở, giảm bớt tải lượng chất ô nhiễm đổ vào sông Nhuệ, sông Hồng. Bên cạnh đó, Thành phố cần xem xét việc áp dụng và phát triển công nghệ Seraphin và An Sinh đã được áp dụng thành công ở Huế, Ninh Thuận, Vinh và đang triển khai ở một số thành phố khác. Công nghệ này có thể chế biến 85% rác thải sinh hoạt thành phân vi sinh và các sản phẩm khác, chỉ phải chôn lấp 15%. Phấu đấu đạt tỷ lệ thu gom 100% và giảm tỷ lệ chất thải rắn phải chôn lấp xuống 50% vào năm 2010. Nguồn: TTXVN, 4/10/2006 |
||
