Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Nghiên cứu về thành phần chất thải và hoạt động tái chế

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 19/Năng lượng và môi trường
Đề mục : 87.53 Chất thải. Quản lý và sử dụng chất thải, công nghệ ít chất thải và không chất thải
Từ khoá : Chất thải Thành phần Tái chế Nghiên cứu
Nội dung:

Hàng năm, trường Đại học Mở (OU) của Anh tiến hành hướng dẫn các sinh viên (không sống tại ký túc xá của trường mà trong những ngôi nhà truyền thống và phần lớn có việc làm thường xuyên trên khắp nước Anh) đang theo khoá học về quản lý môi trường và sức khoẻ cộng đồng nghiên cứu về chất thải và tái chế. Các kết quả nghiên cứu bao gồm dữ liệu về phát sinh chất thải, thành phần chất thải và sự tham gia vào các kế hoạch tái chế bên lề đường.  

Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 21,1 kg chất thải/tuần trong thời kỳ quan trắc năm 2005, trong đó chỉ có 0,3 kg (1,3%) chất thải được các hộ tái sử dụng. Lượng chất thải được tái sử dụng trong thời kỳ này giữ ở mức 13,5% so với mẫu, thấp hơn các năm trước đó. Thậm chí các hộ đã cam kết tái sử dụng, chỉ sử dụng lại một phần nhỏ chất thải mà họ thải ra. Các chất thải được tái sử dụng thường xuyên nhất bao gồm thuỷ tinh và nhựa để làm các thùng chứa. Túi nilông thường trở thành túi đựng rác trong khi vải vụn được dùng làm rẻ lau. Tuy nhiên, nhiều loại chất thải dễ cháy và không cháy gồm những thành phần chất thải tái sử dụng đơn giản nhất. Nguồn gốc chính của loại chất thải sau này là gạch đá được thải ra từ hoạt động sửa chữa nhà ở sau đó lại được tái sử dụng.

Ngoài lượng chất thải tái sử dụng, tỷ lệ phát sinh chất thải sinh hoạt trung bình là 20,8kg/hh/wk (kg chất thải sinh hoạt /tuần), cao hơn một chút so với năm 2004 (19,4 kg/hh/wk). Tuy nhiên, còn quá sớm để nói rằng liệu mức độ gia tăng này có đại diện cho xu hướng cơ bản gia tăng tỷ lệ phát sinh chất thải hay không. Loại chất thải phát sinh nhiều nhất vào năm 2005 là chất thải làm vườn, chiếm 19,4% số chất thải phát sinh. Chất thải từ bếp núc dễ bị phân huỷ chiếm hơn 17,6% trong khi giấy không dùng gói hàng chiếm 12,2%. Mười hai loại chất thải khác chiếm 49,2% còn lại.

Hoạt động thu gom chất thải tái chế bên đường tiêu biểu cho lộ trình hiện đang có vai trò quan trọng to lớn trong việc xử lý chất thải mà các sinh viên của OU thải ra. Năm 2005, gần 3/4 số sinh viên tham gia đã sử dụng biện pháp thu gom tái chế bên đường; năm 2004 là 67% và gần gấp đôi tỷ lệ sinh viên tham gia năm 2001. Vì vậy, năm 2005 lượng chất thải phát sinh giảm 18,1% nhờ tái chế bên lề đường. Trong khi đó, tái chế theo kiểu truyền thông chỉ làm giảm 3,7% chất thải.  

Có ít cơ hội để làm tăng hơn nữa tỷ lệ hộ gia đình sử dụng biện pháp thu gom giấy tái chế hoặc tỷ lệ giấy được loại bỏ khỏi dòng thải. Tăng tỷ lệ tái chế thuỷ tinh bên lề đường, mặc dù làm tăng toàn bộ tỷ lệ tái chế thuỷ tinh nhưng lại làm giảm “đống” chai được các sinh viên của OU sử dụng. Tình huống khác liên quan đến tái chế kim loại và  nhựa. Các địa điểm thuận lợi ở thành phố đã xử lý 16,4% lượng chất thải phát sinh năm 2005, làm giảm lượng chất thải chôn lấp tại các địa điểm này là 28,2% năm 2004.

Theo thống kê, năm 2004, tỷ lệ hộ tham gia vào hoạt động thu gom các chất thải có thể ủ compost đã tăng đáng kể. Năm 2004, có 10,7% hộ gia đình tham gia; vào năm 2005, con số này đã tăng lên 27,6%.Trong khoảng từ năm 2003 – 2004 kế hoạch ủ phân bằng rác thải đường phố đã tăng nhiều hơn gây khó khăn ban đầu trong việc  thực hiện kế hoạch.

 Sự tham gia tích cực vào hoạt động ủ phân bằng rác đường phố đã đẩy lượng chất thải được ủ theo phương pháp này tăng cao. Tỷ lệ chất thải làm vườn được xử lý bằng ủ phân compost  tăng từ 73,5% năm 2004 lên 80,8% năm 2005; đây là tỷ lệ cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây.

Nguồn: Warmer, 7/2006


 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia