Khai thác ti-tan ở Bình Ðịnh đang đe doạ môi trường |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 16/Ô nhiễm môi trường |
| Đề mục | : | 87.51 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở từng khu vực và từng nước |
| Từ khoá | : | Khai thác ; Ti-tan ; Bình Định ; Môi trường |
| Nội dung: | ||
|
Khoáng sản ti-tan Bình Ðịnh được phân bổ ở khu vực ven biển thuộc các huyện Phù Mỹ, Phù Cát và TP Quy Nhơn, với trữ lượng khoảng từ 5 đến 6 triệu tấn, trong đó tập trung lớn ở mỏ Sa khoáng ti-tan Ðề Di (Phù Cát) khoảng 1,5 triệu tấn, hàm lượng ti-tan trên trung bình (53%). Ở vùng Nhơn Hội (TP Quy Nhơn), theo tài liệu đánh giá sơ bộ của Bộ Tài nguyên- Môi trường, trữ lượng khoảng từ 3 đến 4 triệu tấn, hàm lượng ti-tan thấp. Hiện tại trên địa bàn có bảy đơn vị tham gia khai thác (trong đó có hai đơn vị lớn là Công ty BiMal - đơn vị liên doanh Bình Ðịnh - Malaysia, và Công ty CP Khoáng sản Bình Ðịnh, số còn lại là các DNTN). Trung bình hằng năm tỉnh xuất khẩu hơn 100 nghìn tấn sang các thị trường Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc và một phần nhỏ tiêu thụ nội địa với giá hiện nay từ 60 đến 70 USD/tấn... Những năm qua, việc khai thác ti-tan trên địa bàn Bình Ðịnh, bên cạnh những mặt được (góp phần giải quyết việc làm ở vùng nông thôn, tăng thêm ngân sách, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh...), nổi lên không ít vấn đề đáng nói là, ở một số nơi, việc khai thác chưa theo đúng quy hoạch, còn nhiều hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường. Tuy doanh nghiệp có thực hiện việc phục hồi, tái tạo hoàn nguyên các khu vực sau khi khai thác, nhưng nhìn chung, kế hoạch san lấp, trồng cây xanh chậm, kéo dài và chưa đạt yêu cầu. Tại các bãi thải còn những cồn cát lớn, dị biệt với địa hình ban đầu, cây xanh trồng không được chăm sóc, kém phát triển hoặc bị chết, độ che phủ thấp; một số nơi khai thác không tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật, gây tình trạng nhiễm mặn, nhiều nơi rừng dương vành đai phòng hộ bị xâm hại. Trên thực tế, khi khai thác "một cụm vít" chiếm diện tích mặt khai trường từ 1 đến 1,5 ha (trung bình mỗi đơn vị khai thác có ba cụm vít thì diện tích chiếm khoảng 4 ha) chưa được hoàn thổ, tạo hiện tượng cát bay làm ảnh hưởng xấu đến đời sống và sản xuất của người dân trong vùng. Do tỷ suất lợi nhuận cao, nên một số đơn vị chạy đua trong việc đền bù hoa màu, rừng cây, đẩy giá đền bù lên cao, nhiều người dân dựa vào đó khiếu kiện; có nơi chưa thực hiện xong việc đền bù cho dân đã vội khai thác... Về phương diện quản lý nhà nước, trước hết đó là sự bất cập trong công tác quy hoạch. Thí dụ, như ở các xã Mỹ Thành, Mỹ An (huyện Phù Mỹ), vùng mỏ ti-tan ở đây đã được quy hoạch, nhưng sau đó lại bị chồng lấn lên nhiều quy hoạch khác như quy hoạch để trồng rừng, du lịch, quy hoạch nuôi tôm trên cát, dẫn đến việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên (mỏ ti-tan) rất khó khăn. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, sau khi trừ các khoản thuế, phí thì lợi nhuận thu được từ khai thác ti-tan là khá cao (35 - 40% trên đồng vốn), nhất là đối với "công nghệ" khai thác ti-tan ở Bình Ðịnh và cả nước hiện tại mới chỉ dừng ở khai thác và xuất khẩu thô (chưa qua chế biến). Tình trạng phổ biến là các đơn vị tham gia khai thác ti-tan trên địa bàn theo kiểu "ăn xổi", chạy theo tốc độ khai thác càng nhanh, càng nhiều, càng tốt, vì sản phẩm thô không đòi hỏi phải đầu tư lớn. Cũng bởi lợi nhuận cao, cho nên ở Bình Ðịnh có không ít doanh nghiệp đã và đang "chạy đua" tham gia vào lĩnh vực này, nhất là sau khi Khu kinh tế Nhơn Hội được Nhà nước cho phép khai thác tận thu khoáng sản ti-tan ở một số khu vực trước khi xúc tiến xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ việc đầu tư trong khu kinh tế. Ðến thời điểm này, UBND tỉnh Bình Ðịnh đã chấp nhận cho 44 doanh nghiệp đầu tư khai thác ti-tan ở Khu kinh tế Nhơn Hội. Nguồn tài nguyên, khoáng sản của đất nước là rất có hạn. Ðể có thể vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, vừa bảo vệ được môi trường, các mỏ ti-tan trên địa bàn tỉnh Bình Ðịnh phải được quy hoạch hoàn chỉnh, xác định rõ nhằm bảo đảm cho việc khai thác ở vùng mỏ có tính ổn định, lâu bền. Cần quản lý chặt chẽ quá trình khai thác, không để xảy ra tình trạng vượt quá diện tích, sản lượng cho phép (quy định trong giấy phép đã được cấp); yêu cầu doanh nghiệp phải có quy hoạch bãi thải tập trung và xử lý triệt để không gây ô nhiễm môi trường. Sau khi kết thúc khai thác, đơn vị phải phục hồi môi trường, hoàn nguyên địa hình, tái tạo thảm thực vật đạt tiêu chuẩn rừng phòng hộ ven biển. Cần có chế tài xử phạt đúng mức hơn nhằm răn đe những doanh nghiệp vi phạm. Nhằm tránh lãng phí tài nguyên, tỉnh cần cho phép tận thu sa khoáng ti-tan (nếu có) với mức không quá 20 ha/một giấy phép theo luật định tại những khu vực đã có quy hoạch (khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu du lịch, đất nuôi tôm trên cát và các công trình vĩnh cửu khác), với các điều kiện ràng buộc chặt, như khai thác không phá vỡ địa hình, chỉ sử dụng nhà xưởng, thiết bị di động, phải có lộ trình buộc các đơn vị tham gia khai thác chú trọng công tác đầu tư đúng mức để chuyển từ khai thác thô sang khai thác chế biến sâu (năm 2008 là thời điểm theo quy định của Nhà nước phải chấm dứt khai thác, xuất khẩu titan thô). |
||
