Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Độ axít ở đại dương tăng cao

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 15/Đa dạng sinh học
Đề mục : 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương
Từ khoá : Đại dương Độ axít
Nội dung:

Theo báo cáo “Tác động của axít hoá đại dương tới rạn san hô và các sinh vật biển vôi hoá khác: Hướng nghiên cứu trong tương lai” của Chính phủ Hoa Kỳ, rạn san hô và các sinh vật có vỏ ở đại dương đang phải đối mặt với tương lai bất ổn vì chúng ngày càng bị phá hủy bởi các phát thải công nghiệp gây nóng lên toàn cầu. Các hoạt động của con người, chủ yếu là đốt nhiên liệu hoá thạch, đã phá vỡ cân bằng tự nhiên của axít trong đại dương. 

Quá trình tự nhiên bị lấn át

Đại dương hấp thụ CO2 từ không khí một cách tự nhiên. Trong vòng gần 3 thập kỷ, các nhà khoa học đã phát hiện thấy quá trình hấp thụ tăng lên mạnh mẽ, tương ứng với sự gia tăng “khí nhà kính” giữ nhiệt trong khí quyển. Một trong số các khí đó là CO2, sản sinh ra axít cácboníc trong nước biển. Trong các điều kiện tự nhiên, hàm lượng Canxi trong nước biển giữ vai trò là chất đệm cho loại axít này. Nhưng, tác động của các phát thải công nghiệp đã lấn án sự cân bằng này.

Các nhà khoa học đo độ axít bằng “pH”. Richard Feely, tác giả của báo cáo cho biết: kể từ năm 1800, số liệu đo đạc về lõi băng chứng tỏ độ pH trung bình của đại dương đã giảm từ 8,2 xuống 8,1, làm cho lõi băng bị ăn mòn hơn 30%. Dự kiến trong thế kỷ này các phát thải sẽ làm giảm độ pH còn 7,9, kể từ năm 1800 độ axít tăng 150%.

Peter Brewer, nhà hoá học về đại dương thuộc Viện Nghiên cứu  cá Vịnh Monterey ở Moss Landing, California cho rằng tất cả các dấu hiệu cho thấy độ axít của đại dương cao hơn gây ảnh hưởng xấu tới các sinh vật biển sử dụng Canxi trong nước biển để hình thành vỏ. Một số sinh vật biển có thể thích nghi với những thay đổi còn một số lại không thể.”   

Brewer là người đầu tiên đưa ra báo cáo “dấu hiệu” của nhiên liệu hoá thạch theo các kết quả đo axít của đại dương vào năm 1978.    

Victoria Fabry, đồng tác giả báo cáo, Đại học bang California ở San Marcos cho biết: Rạn san hô là các sinh vật sống được hình thành từ bộ xương chứa canxi các bon nát của các vi sinh vật biển. Đó là nơi cư trú của vô số loài cá và là vườn ương của nhiều loài khác. Các thuỷ vực có độ axít ngày càng tăng sẽ làm chậm khả năng tiết ra canxi các bon nát của các sinh vật biển. Và khi nồng độ đủ lớn, loại axít này sẽ ăn mòn vỏ của các sinh vật, đe dọa nhiều tới các loài như ốc sên biển được vỏ bảo vệ khỏi các động vật ăn thịt.

 Các ảnh hưởng cụ thể còn chưa rõ ràng  

Các nhà nghiên cứu nhận thức được mối đe dọa ngày càng tăng mà các thuỷ vực đang phải đối mặt, nhưng họ lại không biết được điều này sẽ ảnh hưởng tới từng sinh vật ở mức độ nào. Do đó, báo cáo đưa ra những gợi ý tiến hành thử nghiệm trong vòng từ 5 –10 năm tới để tìm ra những ảnh hưởng cụ thể của sự axít hoá đại dương:

• Theo dõi những thay đổi về sự vôi hoá san hô, vi sinh vật nổi và các sinh vật có vỏ khác.

• Xác định những thay đổi theo mùa và nhiệt độ nước biển có ảnh hưởng tới axít hoá.

• Xem xét những thay đổi về sinh thái biển do số lượng các sinh vật biển có vỏ giảm mạnh.

Brewer cho biết: các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều thử nghiệm tương tự trong điều kiện khu nuôi cá khép kín. Tuy nhiên, việc chuyển sang thử nghiệm tại “các đại dương mở” để tìm ra lời giải có độ tin cậy hơn vẫn còn là thách thức.

Các số liệu đo về lõi băng cho thấy, đại dương chưa bao giờ bị axít hóa như hiện nay ít nhất là trong vòng 650000 năm qua và có thể hàng triệu năm sau. Có nghĩa là trong một thời gian dài, các sinh vật biển hiện nay đã tiến hoá trong điều kiện đại dương cân bằng mà Kleypas cho rằng sẽ làm cho chúng khó thích nghi với nhiều thuỷ vực bị ăn mòn hơn.

Nguồn: Usatoday, 5/7/2006


 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia