Những số liệu nổi bật về nhiên liệu sinh học dùng cho ngành giao thông |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 15/Năng lượng và môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Nhiên liệu sinh học ; Sử dụng ; Ngành giao thông |
| Nội dung: | ||
|
· Năm 2005, Braxin đã sản xuất 16,5 tỷ lít nhiên liệu etanol (chiếm 45,2% tổng số nhiên liệu của thế giới) đứng thứ hai là Hoa Kỳ với gần 16,2 tỷ lít hay chiếm 44,5% tổng số nhiên liệu của thế giới. Etanol cung cấp khoảng 40% nhiên liệu không phải là điêzen của Braxin và 2% - 3% của Hoa Kỳ. · Cây mía hiện nay là cây trồng quan trọng nhất dùng để sản xuất nhiên liệu sinh học và là nguyên liệu để tạo ra hơn 40% tổng số nhiên liệu etanol. Đứng thứ hai là ngô: đó là nguồn nhiên liệu sinh học được sản xuất chủ yếu ở Hoa Kỳ, cung cấp lượng etanol nhiên liệu cho thế giới gần bằng lượng etanol từ cây mía. · Điêzen sinh học, chủ yếu được sản xuất từ hạt cải và hạt hướng dương, chiếm 80% tổng lượng nhiên liệu sinh học của châu Âu. Năm 2005, Liên minh châu Âu (EU) chiếm gần 89% tổng số nhiên liệu điêzen sinh học của toàn thế giới. Đức đã sản xuất 1,9 tỷ lít hay chiếm hơn một nửa tổng nhiên liệu của thế giới. · Sản lượng etanol toàn cầu tăng gấp hai lần trong khoảng từ năm 2000 đến năm 2005, mặc dù sản xuất điêzen sinh học bắt đầu từ cơ sở nhỏ hơn nhiều lần nhưng lại tăng gần 4 lần. Trái lại, sản xuất dầu mỏ trong thời kỳ này chỉ tăng 7%. · Năm 2005, etanol chiếm 1,2% tổng nguồn cung cấp xăng của thế giới và khoảng 0,8% quãng đường vận chuyển (do hàm lượng năng lượng của etanol thấp hơn). · Từ năm 2002–2004, nhu cầu dầu mỏ của thế giới đã tăng 5,3%. Chỉ riêng mức tiêu thụ của Trung Quốc đã tăng 26,4%, Hoa Kỳ tăng 4,9%; Canađa là 10,2%; và Anh là 6,3%. Trong khi đó nhu cầu dầu mỏ của Đức và Nhật Bản, đã giảm tương ứng là 1% và 2,6%. · Trong số 47 nước nghèo nhất thế giới có 38 nước phải nhập khẩu dầu mỏ và 25 trong số đó phải nhập khẩu toàn bộ số dầu mỏ. Tuy nhiên, nhiều nước trong số này có cơ sở nông nghiệp vững chắc và có vị trí thuận lợi để trồng cây để sản xuất “năng lượng” cho năng suất cao. · Khoảng 80% dự trữ dầu mỏ truyền thống trên thế giới vẫn đang được quản lý và nằm ngoài phạm vi đầu tư của tư nhân. · Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học cần có số lượng lao động trên mỗi đơn vị năng lượng lớn gấp khoảng 100 lần so với ngành công nghiệp nhiên liệu hoá thạch. Ngành công nghiệp etanol đã tạo ra hơn 200 000 việc làm ở Hoa Kỳ và nửa triệu việc làm trực tiếp ở Braxin. · Các phát thải do sản xuất nhiên liệu cho các phương tiện giao thông gây ra khoảng 1/4 phát thải khí nhà kính và tỷ lệ này vẫn đang gia tăng. · Sự cân bằng khí nhà kính của nhiên liệu sinh học thay đổi đáng kể phụ thuộc vào các yếu tố như: việc lựa chọn nguyên liệu đầu vào liên quan tới sự thay đổi trong sử dụng đất, hệ thống sản xuất nguyên liệu và phương pháp sản xuất năng lượng được sử dụng. Nhìn chung, phần lớn nhiên liệu sinh học được sản xuất có sự cân bằng về khí nhà kính. Lợi ích lớn nhất thu được để giảm khí nhà kính nhờ nguyên liệu đầu vào là xenlulô như cây trồng để sản xuất năng lượng. · Cây trồng sản xuất năng lượng có khả năng giảm phát thải khí nhà kính cao hơn 100% (so với nhiên liệu dầu lửa) vì các loại cây này trong quá trình phát triển có thể cô lập các bon dưới đất. Khi sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ làm giảm thải khí nhà kính gồm có: 70% - 110% sợi (cỏ kê, cây dương); 65% - 100% chất thải (dầu thải, chất thải thu hoạch, nước thải); 40% - 90% đường (cây mía, củ cải đường); 45% - 75% dầu mỡ (hạt cải, hạt dướng dương, hạt đậu tương) và 15% - 40% tinh bột (ngô, lúa mì). · Dù còn tranh luận về sự cân bằng năng lượng của nhiên liệu sinh học, nhưng người ta vẫn nhất trí cho rằng toàn bộ số nhiên liệu sinh học thông thường chứa nhiều năng lượng hữu ích hơn là nguồn năng lượng cần để sản xuất chúng. Etanol được sản xuất từ ngô là vấn đề đặc biệt đang gây tranh cãi, nhưng sự cân bằng năng lượng thông thường hiện nay rõ ràng cao hơn 1, nhờ nâng cao hiệu suất năng lượng ở cả trong ngành nông nghiệp và hoạt động tinh chế etanol. Sắp tới, mô hình xử lý năng lượng được sử dụng sẽ có liên quan nhiều hơn: nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học sử dụng năng lượng sinh khối sẽ giảm phát thải khí nhà kính nhiều hơn so với nhà máy sử dụng năng lượng than đá. · Những khoản trợ cấp, tiền tiết kiệm được nhờ sử dụng nhiên liệu sinh học do không nhập khẩu dầu mỏ có thể rất lớn: từ năm 1975 đến 1987, etanol đã tiết kiệm cho Braxin 10,4 tỷ USD ngoại tệ đồng thời tiết kiệm cho Chính phủ nước này số tiền trợ cấp là 9 tỷ USD. Khoản đầu tư này thậm chí sẽ tăng lên nhiều hơn vào những năm sau: các nghiên cứu cho thấy từ năm 1976–2004, sản lượng etanol của Braxin thay thế dầu mỏ nhập khẩu trị giá 60,7 tỷ USD hay 121,3 tỷ USD kể cả lợi ích bị cắt giảm để trả nợ nước ngoài (dựa vào khoản nợ do trước đây nhập khẩu dầu mỏ). Những triển khai gần đây của ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học: · Ở Hoa Kỳ, giá dầu mỏ tăng cao và hoạt động ủng hộ cho ngành nông nghiệp đã thúc đẩy việc thông qua Tiêu chuẩn Nhiên liệu Tái tạo (RFS) yêu cầu sử dụng 28,4 tỷ lít nhiên liệu sinh học cho giao thông vào năm 2012. Theo các hướng dẫn thi hành Đạo luật Chính sách Năng lượng năm 1992, xe chạy bằng nhiên liệu điêzen hiện nay phải chuyển sang sử dụng hỗn hợp B20 (20% điêzen sinh học). Nhiều người trong ngành công nghiệp cho rằng các mục tiêu này đưa ra chi phí sản xuất rất thấp hơn là những hạn chế trong sản xuất nhiên liệu sinh học. · Ở Braxin, Chính phủ hy vọng sẽ xây dựng thành công chương trình etanol có tên gọi Proálcool bằng cách mở rộng sản xuất điêzen sinh học. Toàn bộ nhiên liệu điêzen sẽ phải chứa 2% điêzen sinh học vào năm 2008, đến năm 2013 sẽ tăng lên 5%, và Chính phủ hy vọng sẽ đảm bảo cho người nông dân nghèo ở miền bắc và đông bắc sẽ được chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế từ việc sản xuất điêzen sinh học. · Kể từ đầu năm 2006, Côlômbia đã đưa ra quy định sử dụng xăng chứa 10% etanol ở các thành phố có hơn 500000 người. Ở Venêzuêla, công ty dầu mỏ quốc gia đang hỗ trợ xây dựng 15 nhà máy chưng cất mía đường trong 5 năm tới, khi chính phủ từng bước thực hiện quy định về hỗn hợp xăng E10 (10% etanol). Ở Bôlivia, 15 nhà máy chưng cất đang được xây dựng và Chính phủ đang xem xét cho phép sử dụng hỗn hợp xăng E25. Costa Rica và Guatemala cũng đang trong giai đoạn thử nghiệm mở rộng sản xuất nhiên liệu etanol từ cây mía. Argentina, Mêxicô, Paraguay, và Pêru cũng đang xem xét các chương trình về nhiên liệu sinh học. Đa số những nước này đã học tập kinh nghiệm của Braxin, nước dẫn đầu thế giới về sản xuất nhiên liệu etanol. · Xuất phát từ mong muốn đảm bảo an ninh năng lượng trên quy mô lớn hơn cũng như những đòi hỏi của Nghị định thư Kyoto, chỉ thị của Liên minh châu Âu đề ra mục tiêu đạt đáp ứng 5,75% nhu cầu nhiên liên sinh học cho giao thông vào năm 2010 ở tất cả các nước thành viên. Tháng 2/2006, EU đã thông qua Chiến lược Nhiên liệu sinh học đầy tham vọng với nhiều biện pháp nghiên cứu, xây dựng luật và trên cơ sở thị trường tiềm năng để tăng cường sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học. Đặc biệt, Đức và Pháp đã thông báo kế hoạch mở rộng sản xuất etanol và điêzen sinh học nhằm đạt được mục tiêu của EU trước thời hạn chót. · Ở Nhật Bản, Chính phủ đã cho phép sử dụng hỗn hợp etanol có hàm lượng thấp để chuẩn bị đưa ra quy định sử dụng hỗn hợp với mục đích về lâu dài sẽ thay thế 20% nhu dầu mỏ của quốc gia bằng nhiên liệu sinh học hoặc nhiên liệu khí hoá lỏng vào năm 2030. · Tại Canađa, Chính phủ đề ra mục tiêu đến năm 2010 sẽ tiêu thụ 45% xăng chứa 10% etanol. Ontario sẽ là trung tâm của chương trình etanol mà Chính phủ mong rằng đây sẽ là nơi sử dụng toàn bộ nhiên liệu là hỗn hợp 5% etanol vào năm 2007. · Ở Đông Nam Á, Thái Lan, nỗ lực giảm chi phí nhập khẩu dầu mỏ đồng thời hỗ trợ cho người trồng sắn và mía ở trong nước, đã đưa ra quy định bắt buộc sử dụng hỗn hợp xăng pha 10% etanol kể từ năm 2007. Vì những lý do tương tự, Philippin sẽ sớm bắt buộc sử dụng 2% điêzen sinh học để hỗ trợ người trồng dừa và 5% etanol, có thể là bắt đầu từ năm 2007. Ngành công nghiệp dầu cọ có kế hoạch đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu về nhiên liệu điêzen của Malaixia và Inđônêxia. · Các nhà quy hoạch của Trung Quốc và Ấn Độ cũng đã nỗ lực để mở rộng nguồn cung cấp etanol và điêzen sinh học của nước họ. Ở Ấn Độ, chương trình sản xuất etanol từ đường kêu gọi sử dụng hỗn hợp E5 ở hầu hết trên toàn quốc; tuỳ thuộc vào lượng etanol có sẵn, chính phủ nước này sớm lập kế hoạch về nhu cầu sử dụng E10 và sau đó là E 20. Ở Trung Quốc, Chính phủ đang có quy định bắt buộc sử dụng E10 ở 5 tỉnh có số ô tô khách chiếm 16% của cả nước. · Ở châu Phi, nhiều nước có sáng kiến hoặc đang nỗ lực để mở rộng sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học bao gồm Benin, Êthiôpia, Gana, Guinê Bissau, Kênya, Malawi, Môzămbique, Nigêria, Sênêgan, Nam Phi và Zimbabuê. Nguồn: Worldwatch, 6/2006 |
||
