Tương lai của các đại dương, vùng ven biển và quốc đảo nhỏ |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 4/Môi trường toàn cầu |
| Đề mục | : | 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương |
| Từ khoá | : | Đại dương ; Vùng ven biển ; Quốc đảo nhỏ ; Tương lai |
| Nội dung: | ||
|
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về bảo vệ bờ biển và các dịch vụ hệ sinh thái khác từ rừng ngập mặn và rạn san hô công bố tại Hội nghị về đại dương diễn ra 3 năm một lần, rạn san hô và rừng ngập mặn đang biến mất với tốc độ nhanh chóng. Gần 1/3 số san hô không còn tồn tại cùng với 60% san hô sẽ mất đi vào năm 2030. Hơn 1/3 tổng số rừng ngập mặn đã biến mất với tốc độ nhanh hơn là rừng mưa nhiệt đới. Hội nghị toàn cầu lần thứ 3 về đại dương, vùng ven biển và quốc đảo đã được tổ chức tại trụ sở của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên Hợp Quốc(UNESCO) ở Pari để đánh giá những tiến bộ đạt được và những trở ngại đối với sự phát triển bền vững của đại dương, vùng ven biển và quốc đảo nhỏ đang phát triển. Uỷ ban Hải dương học liên chính phủ (IOC) đăng cai tổ chức hội nghị này, và khoảng 350 đại biểu trên toàn thế giới đã dự họp để xem xét các hệ sinh thái biển và vùng ven biển đang bị đe dọa ngày càng tăng. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), sự lành mạnh của rạn san hô khắp mọi nơi trên thế giới có giá trị ước tính khoảng 100000 – 600000 USD/km2/năm. Chi phí bảo tồn các rạn san hô đó trong khu khu bảo tồn biển chỉ là 775 USD/km2/năm. Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành UNEP cho rằng: Những số liệu thực tế về tài chính trong nghiên cứu này sẽ làm thay đổi hoàn toàn thái độ và quan điểm của chính phủ các nước, ngành công nghiệp, chính quyền địa phương và cá nhân, để họ quý trọng và bảo tồn hiệu quả hơn các tài sản của tự nhiên. Họ sẽ suy nghĩ cẩn trọng hơn về ô nhiễm, biến đổi khí hậu, phát triển ồ ạt và các phương thức đánh bắt khác gây thiệt hại đang nhanh chóng làm suy yếu cơ sở kinh tế của nhiều cộng đồng dân cư ven biển trên toàn thế giới. Ở Inđônêxia, du lịch là ngành chủ yếu sử dụng san hô, căn cứ vào chi phí bảo vệ các bãi cát ven biển, rạn san hô ước tính trị giá 1 triệu USD/km2. Theo báo cáo, ở vùng biển Caribê , giá trị tương tự thu được từ 2000 – 1 triệu USD trong đó giá trị cao nhất là ở các khu vực phụ thuộc nhiều vào du lịch. Ở Samoa thuộc Châu Mỹ, các nhà nghiên cứu tính toán, rừng ngập mặn có giá trị hơn 100000 USD/km2 tương đương với 50 triệu USD/năm. Ở Thái Lan, con số này thậm chí còn cao hơn, ước tính trị giá hơn 3,5 triệu/km2. Ước tính, trong số 30 triệu thuyền đánh cá quy mô nhỏ ở thế giới đang phát triển, phần lớn đều phụ thuộc vào quy mô của rạn san hô. Ở Philipin, nghiên cứu phát hiện thấy hơn 1 triệu thuyền đánh cá kiếm sống trực tiếp phụ thuộc vào rạn san hô. Nhìn chung, cá trong rạn san hô chiếm 1/4 sản lượng cá đánh bắt trên toàn cầu được dùng làm thực phẩm cung cấp cho 1 tỷ dân. Rừng ngập mặn cũng quan trọng đối với nghề cá. Ước tính 75% sản lượng tôm he được đánh bắt vì mục đích thương mại ở Queensland, Ôxtrâylia phụ thuộc vào rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn được quản lý có diện tích 400 km2 ở Matang, Malaixia, mỗi năm hỗ trợ nghề cá 100 triệu USD. Sinh vật biển thường có chứa các hợp chất hoạt tính được dùng làm dược liệu. Hiện nay, sinh vật sống trong rạn san hô cung cấp chất chống ung thư và sẽ có triển vọng trong việc điều trị HIV. Năm 2000, lợi ích thực tế hàng năm thu được từ du lịch lặn dưới biển Caribê là khoảng hơn 2 tỷ USD trong đó chi phí trực tiếp cho việc lặn xuống khảo sát rạn san hô là 625 USD. Jon Hutton, Giám đốc vừa được bổ nhiệm của Trung tâm quan trắc bảo tồn thế giới thuộc UNEP (UNEP-WCMC) , cho rằng nghiên cứu này là quan trọng vì “nghiên cứu này không chỉ mang lại giá trị to lớn cho các dịch vụ của tự nhiên, mà còn thể hiện tầm quan trọng của việc thu thập, lưu giữ và phân tích dữ liệu mà UNEP đảm nhận”. Rạn san hô và rừng ngập mặn có vai trò quan trọng, nhưng nhiều vấn đề khác về đại dương cũng cấp bách. Các đại biểu Hội nghị sẽ đặc biệt chú ý tới các vấn đề mới nảy sinh và còn chưa được giải quyết về đại dương và khí hậu bao gồm axít hoá đại dương, cô lập CO2 và biến đổi khí hậu ở Bắc cực. Quản lý vùng biển khơi, kể cả việc khai thác tài nguyên công nghệ sinh học và bảo vệ tài nguyên dễ bị tổn thương và đa dạng sinh học là nội dung chính trong Chương trình nghị sự. Đó là vấn đề đặc biệt quan trọng khi 64% đại dương của thế giới nằm ngoài quyền thực thi pháp lý của quốc gia và là đối tượng gây căng thẳng vì áp lực đánh bắt. Hội nghị sẽ tập trung vào những bài học rút ra từ thảm họa sóng thần diễn ra vào tháng 12/2004 trong đó hơn 225 000 người tại 11 nước ở Ấn Độ Dương đã bị thiệt mạng. Hơn 3 triệu người phải di dời nơi ở vì trận động đất mạnh 9.0 độ Ritchter xảy ra ngoài bờ biển thuộc đảo Sumatra của Inđônêxia do kết quả của sóng thần. Mục đích của Hội nghị này là mở ra diễn đàn đối thoại Bắc - Nam giữa các nhà quản lý ở các nước phát triển, nước đang phát triển, quốc đảo nhỏ đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi để thúc đẩy Chương trình nghị sự toàn cầu về đại dương. Các đại biểu sẽ đưa ra những khuyến nghị về những bước đi tiếp theo và mốc thời gian rõ ràng, qua đó theo dõi tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu về đại dương của quốc tế như thực hiện Hành động Bảo vệ Môi trường biển của Chương trình Toàn cầu LHQ xuất phát từ các hoạt động trên đất liền nhằm đạt được tiến bộ to lớn vào năm 2006. Tại Hội nghị, điểm đặc biệt được chú ý sẽ là việc thực hiện Chiến lược Mauritius được soạn thảo vào tháng 1/2005 nhằm giải quyết thực tế các quốc đảo nhỏ đang phát triển nằm trong các vùng dễ bị tổn thương nhất trước các thảm họa môi trường và tự nhiên có tần suất và cường độ lớn và tác động của chúng ngày càng gia tăng. Các quốc đảo nhỏ đang đối mặt với hậu quả lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Các đại biểu Hội nghị còn đưa ra các khuyến nghị đặc biệt về cam kết giữa các nhà hoạch đinh chính sách và người dân trong việc ủng hộ Chương trình nghị sự toàn cầu về đại dương dựa vào việc đánh giá các nghị quyết của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững năm 2002, Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và các thoả ước khác có liên quan như Công ước về Đa dạng sinh học và Chương trình nghị sự 21. Các mục tiêu chính về đại dương, vùng ven biển và quốc đảo nhỏ của Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững và Mục tiêu phát triển thiên niên kỳ bao gồm ứng dụng cách tiếp cận với hệ sinh thái vào năm 2010 để phát triển bền vững các đại dương, đặc biệt là quản lý nghề cá và bảo tồn đa dạng sinh học. Các mục tiêu khác là duy trì hoặc khôi phục trữ lượng cá bị suy giảm ở mức có thể tạo ra sản lượng bền vững tối đa trên cơ sở cấp bách và có thể thực hiện được trước năm 2015 và cắt giảm các khoản trợ cấp là tăng hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không thông báo trước và không theo quy định và tăng công suất của các tàu đánh cá. Nguồn: ENS, 1/2006 |
||
