Chiến lược Năng lượng mới của Nhật Bản |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2006/Số 3/Năng lượng và môi trường |
| Đề mục | : | 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường |
| Từ khoá | : | Chiến lược năng lượng ; Nhật Bản |
| Nội dung: | ||
|
Dự thảo Chiến lược mới của Nhật Bản kêu gọi giảm phụ thuộc vào dầu mỏ từ 50% mức hiện nay xuống còn 40% hoặc thấp hơn vào năm 2030, đẩy mạnh phát triển năng lượng hạt nhân và đảm bảo nguồn năng lượng nhập từ nước ngoài thông qua việc thúc đẩy phát triển nhiều công ty điện lực mạnh hơn. Gần đây, Chính phủ Nhật Bản đã cho biết kế hoạch xây dựng lò phản ứng hạt nhân nhanh trị giá 1 tỷ yên (8,7 tỷ USD). Các công ty điện lực trong nước đã thông báo những kế hoạch sử dụng plutoni trước hết là hoạt động thử nghiệm tách plutoni bằng thiết bị tái xử lý nhiên liệu hạt nhân thải vào tháng 2/2006. Ngoài ra, Inpex và Teikoku là những công ty phát triển dầu mỏ số 1 và 3 của Nhật Bản sẽ sát nhập hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần vào tháng 4/2006 để có thể trụ vững trước cuộc cạnh tranh khốc liệt trên quy mô toàn cầu. Những biện pháp này của Nhật Bản sẽ đảm bảo nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như nguồn năng lượng khác ổn định nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước này phát triển. Trong lúc giá dầu lửa đang tăng cao, cuộc cạnh tranh về nguồn dự trữ dầu mỏ trên toàn cầu vẫn diễn ra khốc liệt. Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đi đầu trong việc tìm kiếm các nguồn dự trữ dầu mỏ, vì họ đều rất cần nguồn cung cấp năng lượng và dầu mỏ ổn định để phát triển kinh tế. Nhu cầu ngày càng tăng về các nguồn năng lượng đã trở thành nguyên nhân gây ra căng thẳng và xung đột tiềm tàng, ví dụ ở Đông Á đã xảy ra cuộc tranh cãi giữa Tokyo và Bắc Kinh về khí đốt ở các vùng thuộc biển Đông Trung Quốc. Nhật Bản nhập khẩu gần như toàn bộ dầu mỏ, hiện nay khoảng 90% lượng dầu mỏ nhập từ Trung Đông. Sự gia tăng giá dầu năm 2005 đã đe dọa nền kinh tế nước này. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ khác giống với 2 cuộc khủng hoảng diễn ra vào những năm 1970 (năm 1973 và 1979) sẽ là kịch bản đen tối đối với một đất nước thiếu năng lượng này. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên, người tiêu dùng Nhật Bản sợ hãi ồ ạt tích trữ giấy vệ sinh, chất tẩy rửa và những mặt hàng khác. Từ khi kết thúc chiến tranh Thế giới thứ II, vào năm 1974, sau nhiều năm tăng trưởng kinh tế mạnh kể từ những năm 1960, kinh tế Nhật Bản lần đầu tiên không tăng trưởng. Nhật Bản vẫn trụ vững qua 2 cuộc khủng hoảng dầu mỏ nhờ những nỗ lực tiết kiệm năng lượng và đổi mới công nghệ. Hiện nay, Nhật Bản là một trong những nước mà nền kinh tế có hiệu suất sử dụng năng lượng cao nhất thế giới. Theo ước tính, hiện nay, nước này cần 55 000 lít dầu thô - gần bằng một nửa lượng dầu mà họ cần vào năm 1980 là 106 000 lít - để tạo ra 100 triệu yên trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nhật Bản có nguồn cung cấp dầu mỏ đủ để sử dụng trong vòng 170 ngày. Đồng yên mạnh vừa làm cho việc nhập khẩu dầu mỏ trở nên dễ dàng hơn, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc loại bỏ các tác động xấu do giá dầu mỏ tăng cao. Nền kinh tế Nhật Bản phục hồi trước tình trạng giá dầu mỏ tăng cao nhanh hơn so với thời điểm những năm 1970 diễn ra 2 cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Tuy nhiên, Nhật Bản không thể cảm thấy an toàn và yên tâm về nguồn cung cấp năng lượng lâu dài. Ngoài việc thương mại đầu cơ và các điều kiện thời tiết, giá dầu mỏ trên thế giới vẫn giữ ở mức cao và chắc chắn sẽ tăng cao hơn trong năm 2006 và các năm tiếp sau vì các yếu tố về cơ chế sẽ không thể thay đổi nhanh chóng. Trong các yếu tố đó có sự gia tăng đáng kể nhu cầu ở châu Á mà đi đầu là Trung Quốc và Ấn Độ, 2 nước có dân số đông nhất thế giới cũng như khả năng sản xuất của Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) còn hạn chế. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính, nhu cầu năng lượng toàn cầu sẽ tăng 60% vào năm 2030 kể từ năm 2006. Sản lượng dầu mỏ của thế giới dự kiến sẽ đạt tới đỉnh điểm sớm nhất là vào năm 2010 và theo dự báo lạc quan hơn là vào năm 2040. Chiến lược Năng lượng mới của Quốc gia đều đưa ra biện pháp từng bước tiết kiệm năng lượng và phát triển các công nghệ tiết kiệm năng lượng nhằm cắt giảm tỷ lệ tiêu thụ năng lượng để tạo nên GDP là 30% vào năm 2030. Mục tiêu của Chiến lược là nhằm đảm bảo cho Nhật Bản sẽ có đủ nguồn cung cấp năng lượng ổn định trong cuộc cạnh tranh tài nguyên năng lượng đang diễn ra ngày càng khốc liệt. Tuy nhiên, đạt được mục tiêu này không phải là điều dễ dàng. Mức tiêu thụ năng lượng ban đầu để tạo nên GDP của Nhật Bản là thấp nhất thế giới, trong 3 thập kỷ qua đã cải thiện được 30% nhờ những biện pháp bảo tồn rút ra từ các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 1970. Ngoài ra, chiến lược mới này còn kêu gọi giảm sự phụ thuộc của Nhật Bản vào dầu mỏ, nguồn năng lượng chính từ mức 50% hiện nay xuống còn 40% hoặc thấp hơn vào năm 2030 nhờ đẩy mạnh các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Phát triển nhiều năng lượng hạt nhân hơn
Chiến lược năng lượng mới của Nhật Bản kêu gọi tăng tỷ lệ phát điện bằng năng lượng hạt nhân trong tổng nguồn cung cấp điện quốc gia từ mức hiện nay là 30% lên mức cao hơn vào năm 2030 và xây dựng chu trình nhiên liệu hạt nhân. Tháng 10/2005, Uỷ ban Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản, đã giúp Chính phủ thông qua kế hoạch dài hạn về năng lượng hạt nhân. Kế hoạch này duy trì chương trình chu trình nhiên liệu hạt nhân của quốc gia, tái xử lý tất cả các loại nhiên liệu hạt nhân thải để tách plutoni dùng làm nhiên liệu hạt nhân. Lò phản ứng hạt nhân nhanh (FBR) tạo ra nhiều vật liệu phân hạch hơn mức tiêu thụ, đây là trọng tâm của chu trình nhiên liệu hạt nhân. Cơ quan Tài nguyên thiên nhiên và Năng lượng trực thuộc Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp (METI) đã tiết lộ kế hoạch xây dựng 1 FBR mới được trang bị công nghệ tiên tiến và hoạt động hiệu quả hơn khoảng vào năm 2030 với giá 1 tỷ yên để thay thế cho FBR đầu tiên có tên Monju đã đóng cửa vào tháng 12/1995 bị rò rỉ Natri và liên tục bị cháy. Ngoài ra, FBR mới sẽ được sử dụng làm lò phản ứng mẫu trong khoảng 1 thập kỷ và sau đó được thương mại hoá để thay thế lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ vào khoảng năm 2050. Đồng thời, cơ quan này cũng công bố kế hoạch triển khai lắp đặt thiết bị tái xử lý nhiên liệu hạt nhân thải thứ hai vào năm 2045 để sản xuất nhiên liệu hỗn hợp ôxít hỗn hợp urani-plutoni (MOX) cho FBR mới sử dụng. Thiết bị hiện nay đặt tại làng Rokkasho, đông bắc quận Aomori. Ngoài ra, dự án phát điện bằng nhiệt plutoni sẽ bước vào giai đoạn mới thực hiện vào tháng 2/2006 tới khi Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiên liệu hạt nhân của Nhật Bản bắt đầu vận hành thử nghiệm nhà máy Rokkasho tách plutoni. Dự án này sẽ tiến hành đốt nhiên liệu MOX trong lò phản ứng nước nhẹ. Nhà máy Rokkasho dự kiến sẽ đi vào hoạt động thương mại vào năm 2007. Theo các kế hoạch tháng 1/2006 của 11 công ty điện lực Nhật Bản, sau khi dự án phát điện bằng nhiệt plutoni được thực hiện, mỗi năm sẽ tiêu thụ 6,5 tấn plutoni. Liên hiệp các Công ty điện lực Nhật Bản dự kiến phát điện bằng nhiệt plutoni tại 16 đến 18 nhà máy điện vào cuối năm 2010. Trước mắt, các công ty có kế hoạch sử dụng plutoni được sản xuất ở Anh và Pháp tại các nhà máy điện nhiệt plutoni và bắt đầu sử dụng plutoni được sản xuất trong nước từ năm 2012 trở đi. Kế hoạch của các công ty điện lực này là thu hồi 1,6 tấn plutoni thông qua tái xử lý nhiên liệu hạt nhân thải tại nhà máy điện Rokkasho vào cuối năm 2006. Công ty Nhiên liệu hạt nhân Nhật Bản dự tính nếu hoạt động hết công suất, nhà máy này sẽ sản xuất hơn 4 tấn plutoni/năm. Các công ty điện lực Nhật Bản hiện lưu giữ tổng số khoảng 30 tấn plutoni được tái xử lý ở Anh và Pháp, có thể cung cấp cho các nhà máy điện dùng nhiệt plutoni hoạt động trong khoảng 15 năm. Việc tiến hành đốt cháy plutoni lấy nhiệt là để tiêu thụ plutoni thừa do quá trình tái xử lý nhiên liệu hạt nhân thải. Do ngừng hoạt động lò phản ứng hạt nhân nhanh và sự tiến triển chậm của dự án sử dụng nhiệt plutoni, làm cho nguồn dự trữ plutoni của Nhật Bản đang gia tăng. Vũ khí hạt nhân (NPT) được phép vừa làm giàu urani vừa tái xử lý nhiên liệu hạt nhân thải phục vụ cho mục đích hoà bình. Ngoài ra, Nhật Bản cũng coi trọng việc thúc đẩy phát triển năng lượng hạt nhân. Theo Nghị định thư Kyoto 1997, Nhật Bản bắt buộc phải giảm lượng khí nhà kính này so với các mức của năm 1990 là 6% vào năm 2012. Trong số 54 nhà máy điện hạt nhân, nhiều nhà máy đã có tuổi thọ từ 20-30 năm nhưng đến khoảng năm 2030 sẽ vẫn không có các nhà máy mới thay thế. Sự gia tăng 40% nguồn điện bằng các lò phản ứng hạt nhân sẽ gây áp lực lớn tới các lò phản ứng cũ. Để tăng tốc độ hoạt động của các lò phản ứng này đồng thời vẫn đảm bảo được hoạt động an toàn sẽ là một thách thức lớn. Chiến lược quốc gia mới về năng lượng của Nhật Bản đề cập tới việc cần phải tăng lượng dầu mỏ hoặc dầu mỏ được khai thác và nhập khẩu thông qua các nhà sản xuất trong nước từ 15% mức hiện nay lên 40% vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, chiến lược mới nhấn mạnh nhu cầu khuyến khích các công ty dầu mỏ lớn của Nhật Bản cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Kế hoạch sát nhập 2 công ty dầu mỏ Inpex và Teikoku thành công ty cổ phần vào tháng 4/2006 sẽ phù hợp với chiến lược mới của quốc gia. Do nhu cầu về tài nguyên trên toàn cầu tiếp tục tăng, cuộc canh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất dầu và khí vẫn chưa có dấu hiệu dịu bớt. Các nước thiếu năng lượng như Trung Quốc và Ấn Độ đang đổ xô đi tìm các nguồn dự trữ dầu và năng lượng khác của thế giới. Năm 1993, Trung Quốc đã trở thành nước nhập dầu dầu thô và thay chỗ Nhật Bản, nước tiêu thụ dầu nhiều thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ năm 2003. Hiện nay, Trung Quốc phải nhập khẩu hơn 40% lượng dầu mỏ. Trong khi đó, Ấn Độ nhập khoảng 70% dầu mỏ. Mức độ phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu của 2 nước này vẫn sẽ tăng. Tình trạng này đã thôi thúc Nhật Bản bắt đầu giúp các nước châu Á khác xây dựng các nguồn dự trữ dầu mỏ thông qua sự trợ giúp kỹ thuật. Đầu năm 2004, Nhật Bản và Iran đã ký kết hợp đồng trị giá 3 tỷ USD để khai thác mỏ dầu thô Azadegan của Iran. Dự án này sẽ khai thác 700000 thùng dầu/ngày vào năm 2010. Tháng 10/2005, Nhật Bản đã giành được hợp đồng khai thác 6 mỏ dầu ở Libya. Năm 2005, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định thiết kế con tàu đầu tiên để khảo sát các mỏ dầu ngoài khơi. Thông qua sát nhập, Inpex và Teikoku hy vọng hoạt động dầu khí của Nhật Bản sẽ trở nên lớn mạnh hơn trên quy mô toàn cầu. Tổng doanh thu hàng năm của 2 công ty dầu mỏ này là hơn 4,7 tỷ USD. Nhưng Công ty mới này chỉ sản xuất được 370000 thùng dầu/ngày, thấp hơn so với công ty CNOOC của Trung Quốc là 380000 thùng/ngày. |
||
