Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Môi trường và phát triển bền vững » 2006 » Số 3 » Môi trường toàn cầu » Biện pháp chống hạn phải bao gồm cả đầu tư cho tự nhiên

Biện pháp chống hạn phải bao gồm cả đầu tư cho tự nhiên

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2006/Số 3/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87.33 Thiên tai và thảm hoạ. Sự cố môi trường
Từ khoá : Hạn hán Tự nhiên Đầu tư
Nội dung:

Theo Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), cần có hành động khẩn cấp để khắc phục tình trạng hạn hán đang diễn ra ở các khu vực Đông Phi, đe doạ đến đời sống  của hàng triệu người và động vật nuôi ở khu vực lân cận.

Ông Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành UNEP cho biết, nguyên nhân gây ra hạn hán liên quan đến nhiều vấn đề về quản lý linh hoạt đối với những áp lực và xung đột ở các khu vực khan hiếm nước. 

Hạn hán cũng liên quan chặt chẽ với thiệt hại môi trường ở các cánh  rừng, thảo nguyên, đất ngập nước và các hệ sinh thái quan trọng khác cũng như biến đổi khí hậu toàn cầu.

Ông Toepfer đã hối thúc các nước trong khu vực đầu tư và phục hồi “vốn tự nhiên” giúp các cộng đồng dễ bị tổn thương khắc phục những đợt hạn hán trong tương lai.

Ông cũng yêu cầu các quốc gia ủng hộ các kế hoạch nhằm khắc phục nghèo đói và thực hiện phát triển kinh tế bền vững, đồng thời đưa ra biện pháp hợp lý nhằm giảm phát thải do sử dụng nhiên liệu hoá thạch đang làm nóng lên toàn cầu.

Những biện pháp phải được thực hiện ngay bây giờ nhằm bảo vệ sự sống và sinh kế. Nhưng chúng ta cũng phải quan tâm đến tương lai. Chính vì vậy, yếu tố sống còn mà chúng ta không chỉ duy trì và bảo tồn rừng, đất ngập nước, hồ và các hệ sinh thái khác mà chúng ta còn phải đầu tư vào việc khôi phục và mở rộng chúng. Chúng ta cũng phải giúp các nước thích nghi hơn với những tác động có hại có thể xảy ra do biến đổi khí hậu.Thiếu những hành động kết hợp này, các quốc gia sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước và năng lượng trong tương lai với cảnh nghèo khổ và sự thiệt hại về kinh tế.

 Christian Lambrechts, chuyên gia Ban đánh giá và cảnh báo sớm của UNEP cho biết,  cây xanh, rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành mưa. Xét một cách tổng thể, 62% lượng mưa xuất hiện ở lục địa là do kết quả của quá trình bốc hơi từ hồ, vùng đất ngập nước và các khu vực có cây cối rậm rạp, ở những khu rừng đặc biệt, nước chứa trong đất bốc hơi vào không khí. Chỉ khoảng 38% lượng mưa được hình  thành từ đại dương và biển.

Chúng ta không thể thay đổi lượng mưa từ biển và đại dương, nhưng chúng ta có thể thay đổi được ở đất liền. Cây không chỉ giúp đất hấp thụ nước khi trời mưa, nuôi dưỡng sông, hồ, đất ngập nước và những tầng nước ngầm mà chúng còn hoạt động như những chiếc máy bơm tự nhiên, mang độ ẩm trong phạm vi 2 m từ dưới đất vào không khí.

Ông cho rằng, lượng mưa trung bình ở một thành phố ở Đông Phi như Nairobi khoảng 1200 mm mỗi năm, trong khi ở Pari, Pháp lượng mua trung bình thấp hơn, khoảng từ 800 – 900 mm mỗi năm. Sự khác nhau đó là do ở Pháp lượng mưa nhỏ hơn, thường xuyên hơn trong khi ở Nairobi lượng mưa lớn hơn và không thường xuyên. Chính vì thế Kenya đã đầu tư trồng rừng như một biện pháp để giữ và lấy lại độ ẩm trong không khí nhằm tăng lượng mưa đều đặn trong năm.

Hưởng ứng hoạt động chống hạn hán năm 1999 – 2000, UNEP đã soạn một báo cáo kèm theo những khuyến nghị. Theo ước tính của báo cáo về hạn hán ở Kenya năm 2000, khoảng 2000 – 3000 khu vực giữ nước như rừng Mount Kenya, rừng Mau, các khu rừng của Mount Elgon và rừng Cherangani đã bị chặt phá với diện tích từ 0.2% đến 2%.

Một nghiên cứu chi tiết hơn do Nhóm hoạt động bảo vệ rừng ở Kenya thực hiện với sự hỗ trợ của UNEP về kỹ thuật và sử dụng các trạm vệ tinh quan sát cũng nhấn mạnh sự suy giảm các cánh rừng đang diễn ra nhanh chóng. Những thay đổi độ che phủ rừng ở 5 “thác nước” của Kenya năm 2000 – 2003 ước tính trong giai đoạn 3 năm, tại khu liên hợp rừng Mau đã mất hơn 7000 hécta rừng. Khu Liên hợp rừng Mau cung cấp nước cho tất cả sông ở Kenya nằm ở phía tây thung lũng Rift Valley gồm các sông Yala, Mara, Njoro và sông Molo. Các con sông này lần lượt đổ vào những hồ chính gồm hồ Baringo, Nakuru, Turkana và hồ Victoria.  

Hầu hết những khu vực này cũng là nơi đến của khách du lịch, có thể tạo ra nguồn thu nhập chính và những khu bảo tồn quan trọng của quốc gia và toàn cầu gồm Maasai Mara, Serengeti và Khu bảo tồn rừng Kakamega.

Một khảo sát tiếp theo vào năm 2005 chỉ ra rằng, việc phá huỷ khu liên hợp rừng Mau vẫn tiếp tục xảy ra với các hoạt động đốt lấy than, các quá trình phát triển khác hiện nay đang tác động lên toàn bộ khu vực phía Tây rừng Maasai Mau. Hiện nay khoảng hơn 11.000 km2 rừng bị tác động nặng nề.

Tác động do mất rừng sẽ còn tiếp tục diễn ra, Báo cáo gần đây do Kengen, Công ty điện lực Kenya thực hiện và đã được trao đổi với UNEP cho thấy, đập Masinga là nơi cung cấp hơn 50% điện năng quốc gia đang bị lắng đọng phù sa, hậu quả do mất rừng thượng nguồn.

Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng, việc giảm giá cà phê toàn cầu cũng làm giảm việc duy trì trồng cây cà phê và thói quen canh tác nông nghiệp theo mô hình ruộng bậc thang. Tình trạng này cũng làm tăng mức độ xói mòn và đất sẽ bị dồn về các con sông. Trong khi đó, việc bảo dưỡng yếu kém đường xá và cơ sở hạ tầng khác có thể làm tăng hiện tượng xói mòn và những vấn đề đối với đập nước.

Đập Masinga được xây dựng cách đây 20 năm với công suất là 1400 triệu m3 và ước tính đã bị mất 20% công suất do quá trình bồi lắng phù sa. Nạo vét phù sa ở đập này cần 1000 chiếc xe tải lớn hoạt động liên tục trong 6 năm.

Ở các quốc gia như Costa- Rica, các nhà máy thuỷ điện cần phải trả tiền bồi thường sinh thái cho các cộng đồng sống ở thượng nguồn để bảo vệ các khu rừng hơn là để họ chặt phá, bởi vì chi phí cho hoạt động này rẻ hơn chi phí cho việc nạo vét hoặc xây dựng các con đập mới.

Nguồn: UNEP, 1/2006


 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia