Những nguyên tắc của Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu được thông qua |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 24/Biến đổi khí hậu |
| Đề mục | : | 87.17 Ô nhiễm khí quyển và bảo vệ khí quyển |
| Từ khoá | : | Biến đổi khí hậu ; Nghị định thư Kyoto ; Nguyên tắc |
| Nội dung: | ||
|
Các thành viên tham gia Nghị định thư (NĐT) Kyoto đã thông qua hàng loạt các quyết định nhằm hoàn thiện cuốn sách về những nguyên tắc của NĐT. Theo ông Stéphane Dion, Bộ trưởng Môi trường Canađa, kiêm Chủ tịch Hội nghị Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu ở Montreal, Hội nghị đầu tiên gồm 157 thành viên tham gia NĐT Kyoto: “NĐT Kyoto hiện nay hoàn toàn có thể đi vào hoạt động. Đây là một mốc lịch sử”. Theo NĐT Kyoto, nội dung quyết định bổ sung cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu đã được 35 nước công nghiệp phát triển thông qua nhằm đáp ứng mục tiêu giảm phát thải 6 loại khí nhà kính chủ yếu vào các năm 2008 đến 2012, đây là giai đoạn cam kết đầu tiên. Khi nội dung quyết định được thông qua, các thành viên đã thành lập Ban giám sát thực hiện chung. Việc thực hiện phối hợp là cơ chế của NĐT Kyoto cho phép các nước phát triển đầu tư vào những dự án ít phát thải khí nhà kính ở các nước phát triển khác để thu được tiền trợ cấp giảm thải cácbon mà họ có thể sử dụng để đáp ứng những cam kết giảm phát thải của riêng họ. Hơn nữa, Cơ chế phát triển sạch cho phép các nước công nghiệp hoá đầu tư vào các dự án phát triển bền vững ở những nước đang phát triển và thu được tiền trợ cấp giảm thải cácbon. Các quyết định khác nhằm xác định phương pháp phát thải của các nước, những hướng dẫn cụ thể về các hệ thống dữ liệu và các quy tắc quản lý hấp thụ CO2 bằng cách xác định diện tích đất nông nghiệp và diện tích rừng. Liên quan tới những quyết định này, ông Richard Kinley, Giám đốc điều hành Ban thư ký về biến đổi khí hậu của LHQ cho biết: "Điều mong muốn là NĐT được tôn trọng và đi vào hoạt động thực tế. Theo cơ chế phát triển sạch, việc đầu tư vào các dự án về phát triển bền vững và giảm phát thải tạo ra ý thức lành mạnh của doanh nghiệp”. Các thành viên của NĐT Kyoto bắt buộc phải tham gia thảo luận ở Montreal trong giai đoạn cam kết lần thứ 2 vào năm 2013. Ông Dion cho biết: “Ý thức về sự cần thiết bảo vệ khí hậu toàn cầu ngày càng tăng. Trong các thảo luận với các quốc gia trên toàn thế giới trong 8 tháng qua cho thấy: việc nâng cao nhận thức là yếu tố cần thiết để hành động. Mỗi công dân và chính phủ các nước đã quan tâm nhiều hơn đến việc tăng giá năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng và tìm ra nhiều bằng chứng khoa học về tác động của biến đổi khí hậu”. Hiệp hội quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) cho biết bảo tồn đa dạng sinh học có thể giúp giảm phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ những tác động của khí hậu đến sự sống của trái đất. Vào thời điểm này, IUCN cho rằng, biến đổi khí hậu do con người gây ra làm mất đa dạng sinh học trên toàn thế giới và sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội loài người. Đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc giảm biến đổi khí hậu; các hệ sinh thái rừng và đất ngập nước có vai trò then chốt trong việc lưu giữ cácbon. Theo cơ quan phát hành sách đỏ về các loài đang bị đe doạ đã cung cấp thông tin về hiện trạng bảo tồn và sự tồn tại các sinh vật đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao trên toàn cầu. Nâng cao công tác quản lý những nguồn tài nguyên này không chỉ làm tăng khả năng thích nghi tốt hơn của các loài mà còn làm giảm phát thải CO2. Trong các chiến lược và hành động thích nghi với biến đổi khí hậu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học. Các kế hoạch hành động thực hiện Công ước khung UNFCCC và NĐT Kyoto của các nước đang phát triển bao gồm các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học. Trong một báo cáo mới được trình bày tại Hội nghị, WWF đã thể hiện mối quan ngại đối với nước chủ nhà Canađa về những ảnh hưởng của nước này nếu nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 20C. WWF cho biết, nếu nhiệt độ trái đất tăng quá cao thì nguồn cá ở Đại Tây Dương thuộc vùng biển Canađa sẽ bị dồn đến những vùng nước lạnh, loài cá hồi Đại Tây Dương bị nguy hiểm và các loài quan trọng ở những cánh rừng phương Bắc sẽ bị mắc cạn khi những nơi cư trú tự nhiên của chúng bị đe dọa. Giám đốc Chương trình về những mối đe doạ toàn cầu của WWF tại Canada, Julia Langer cho biết: "Nóng lên toàn cầu làm cho sản lượng đánh bắt cá và các loài cây giảm. Nhiệm vụ cụ thể của Canada là chống lại biến đổi khí hậu và thực hiện các biện pháp khẩn cấp bổ sung để khắc phục sức ỳ, nhất là là sức ỳ trong sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo ”. Báo cáo đã cảnh báo khi nhiệt độ tăng lên 20C sẽ làm cho nhiệt độ nước ở Đại Tây Dương tăng từ 1,50C đến 2,20C. Quần thể cá tiếp tục bị sức ép do tình trạng đánh bắt quá mức, ô nhiễm và mất nơi cư trú. Theo dự báo của WWF, cả hai loài cá ngừ và sò ở Đại Tây Dương có thể sẽ biến mất ở khu vực phía Nam mà không tăng lên ở khu vực phía Bắc. Cua biển châu Á là sinh vật ngoại xâm, chúng có thể xâm chiếm nơi cư trú ở dải ven bờ, dọc bờ biển Nova Scotia, thuộc vịnh St. Lawrence và các vùng Newfoundland và Labrador, loài này có khả năng khống chế toàn bộ khu vực Đại Tây Dương ở Canađa. WWF cảnh báo rằng: "Khả năng thay đổi nơi cư trú sẽ diễn ra ở các khu rừng Ontario ở mức báo động." Cây Thích đường, cây Vân sam đen và Thông mít dự báo sẽ giảm do môi trường sống của chúng dịch chuyển về phía Bắc quá nhanh. Sản lượng đường lấy từ nhựa cây Thích có thể giảm nếu nhiệt độ duy trì trên mức băng giá trong giai đoạn tích đường. Tuy sản lượng đường lấy từ nhựa cây Thích đường chỉ đóng góp một phần nhỏ vào GDP của Canađa, có thể làm ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương và di sản của khu vực. Điều kiện thời tiết ấm và khô diễn ra thường xuyên và khắc nghiệt hơn làm tăng nguy cơ cháy rừng và bùng phát dịch bệnh ở các khu rừng phương Bắc Canađa. Tình trạng này có thể gây hậu quả xấu tới toàn bộ rừng non và sẽ làm giảm lượng gỗ có thể thu hoạch. Jennifer Morgan, Giám đốc Chương trình biến đổi khí hậu toàn cầu của WWF cho biết: "Nếu chúng ta tránh được thiệt hại không thể bù lại được cho với thiên nhiên và nền kinh tế của Canađa, thì chúng ta phải hành động ngay để hạn chế quá trình tăng nhiệt độ toàn cầu. Hội nghị Montreal có ý nghĩa quan trọng, tại Hội nghị này các nhà lãnh đạo cần phải đưa ra quyết định chính thức để thảo luận các hành động và cam kết cắt giảm phát thải CO2”. Hoa Kỳ cũng bị chỉ trích vì không tham gia Nghị định thư Kyoto, nhưng nhà đàm phán khí hậu cấp cao Harlan Watson cho biết: “Hoa Kỳ đang đi theo hướng của cam kết chống biến đổi khí hậu mặc dù chính phủ không ủng hộ NĐT Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính trong khoảng thời gian từ 2008 - 2012. Chính sách biến đổi khí hậu của Hoa Kỳ được dựa trên phạm vi của các chương trình, những sáng kiến, sự hợp tác công nghệ nhằm giải quyết các mục tiêu phát triển năng lượng sạch và phát triển bền vững. Mọi điều khoản chủ yếu của chính sách năng lượng năm 2005 của Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy nước này tăng cường các hệ thống năng lượng ít phát thải khí nhà kính. Trong chính sách năng lượng của Hoa Kỳ đưa ra hơn 11 tỷ USD đầu tư vào việc khuyến khích sản xuất điện từ các nguồn năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt và năng lượng mặt trời; tín dụng thuế đối với các phương tiện lai đạt hiệu suất năng lượng và phương tiện điêzen sạch; công nghệ than sạch; năng lượng hạt nhân; và nhiên liệu sinh học tái tạo. Hoa Kỳ đang tiếp tục theo đuổi chiến lược chống biến đổi khí hậu, hàng năm dành khoảng 5 tỷ USD cho khoa học và công nghệ nghiên cứu về lĩnh vực này”. |
||
