Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử của Trung tâm » Môi trường và phát triển bền vững » 2005 » Số 20 » Năng lượng và môi trường » Inđônêxia đánh thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu dầu mỏ

Inđônêxia đánh thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu dầu mỏ

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 20/Năng lượng và môi trường
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Từ khoá : Thuế bảo vệ môi trường Dầu mỏ Inđônêxia
Nội dung:
 

Theo phó tổng thống Inđônêxia Jusuf Kalla: Một số nước trên thế giới đánh thuế tiêu thụ nhiên liệu dầu mỏ là hoàn toàn đúng vì đối với họ, nhiên liệu dầu mỏ là sản phẩm chiến lược. Họ muốn tránh những cuộc khủng hoảng năng lượng lâu dài có thể xảy ra và trước mắt là để thu được lợi nhuận từ “lãi cổ tức tăng gấp đôi”. Inđônêxia cần phải suy nghĩ nghiêm túc về sự lựa chọn đánh thuế nhiên liệu dầu mỏ ngay từ bây giờ, một mặt để giải quyết vấn đề khủng hoảng năng lượng có thể xảy ra trong tương lai, song mặt khác là để mang lại lợi ích từ nguồn thu này cho ngân sách.

Ở các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là ở Liên minh châu Âu (EU), các mục tiêu  đánh thuế môi trường đối với nhiên liệu dầu mỏ được ưu tiên hàng đầu, thuế nhiên liệu được gọi là thuế môi trường hoặc thuế sinh thái. Mục tiêu đầu tiên là giảm phát tán CO2 từ việc đốt nhiên liệu hoá thạch gây ô nhiễm không khí, nước và tài nguyên thiên nhiên khác và gây hiệu ứng nhà kính cũng như biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì dân số gia tăng và nền kinh tế kích thích tiêu thụ nhiều nhiên liệu dầu mỏ hơn ( nguồn phát thải CO2 chủ yếu), do đó, một trong những công cụ để kiểm soát phát thải là đẩy giá nhiên liệu lên mức cao có thể.

Cơ sở của chính sách này là “nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đây là nguyên tắc rất quan trọng được nêu rõ trong Hiệp ước của châu Âu như là một biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu cao nhất là bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường của Cộng đồng châu Âu.     

Một cơ sở nữa của chính sách là “nguyên tắc phòng ngừa”, một nguyên tắc định hướng việc thông qua Nghị định thư Kyoto vì EU cho rằng đấu tranh chống những ảnh hưởng gây hại có thể xảy ra do biến đổi khí hậu toàn cầu là tất yếu. Sự cần thiết phải bảo vệ và cải thiện môi trường theo hai nguyên tắc này đã mở đường cho việc cắt giảm sử dụng quá mức nhiên liệu hoá thạch bằng cách đánh thuế loại nhiên liệu này. 

Ngoài các mục tiêu môi trường, còn có các mục tiêu chính trị là giảm sự lệ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ (từ Trung Đông) hoặc thu nhập từ dầu mỏ (đối với các nước sản xuất dầu mỏ như Na Uy và Anh), tăng cường chính sách kiểm soát tiêu thụ bằng cách không khuyến khích sử dụng nhiều nhiên liệu dầu mỏ một cách khôn ngoan và hợp lý.

Đối với các nước EU, dầu mỏ là nhiên liệu rất chiến lược, rất quý hiếm song lại tiềm ẩn nguy hiểm khi mức tiêu thụ tăng quá cao. Để đảm bảo an toàn cho các nguồn cung cấp năng lượng, EU đã phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, sinh khối và năng lượng mặt trời. Các yếu tố bên ngoài (như ô nhiễm không khí, tắc nghẽn giao thông, sự lệ thuộc vào thị trường dầu mỏ không ổn định…) cần được tính vào giá dầu mỏ và được phản ánh rõ nét nhất dưới dạng thuế tiêu thụ dầu mỏ.

Tuy nhiên đó chỉ là một khía cạnh của vấn đề. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, thuế thường trở thành gánh nặng cho người nộp. Vì hầu hết các nước ở Tây Âu đã chấp nhận các khái niệm về sự trợ cấp của nhà nước, tỷ lệ đóng thuế thường là tương đối cao, nhưng thuế nhiên liệu lại khá thấp.

Đó là khu vực mà khái niệm “lãi cổ tức tăng gấp đôi” được đưa vào như một giải pháp. Tại sao không san sẻ gánh nặng của người lao động (giảm thuế thu nhập cá nhân cao, đóng góp nhiều cho bảo hiểm xã hội) sang cho môi trường (đưa vào áp dụng thuế nhiên liệu dầu mỏ)? Theo đó, thu nhập từ thuế vẫn cân bằng (giảm khoản này để tăng khoản khác bù vào) đồng thời vẫn bảo vệ và cải thiện tốt hơn chất lượng môi trường. Hơn nữa, giải pháp này sẽ đẩy mạnh việc phát triển năng lượng tái tạo, khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng và cuối cùng là sẽ giảm sự lệ thuộc vào dầu mỏ. Đến nay, tất cả các mục tiêu này đang được đáp ứng. Thực tế, lãi cổ tức tăng gấp đôi đã chuyển thành “lãi cổ tức tăng gấp bội”.

Những người theo chủ nghĩa hoài nghi sẽ ngay lập tức gạt bỏ suy nghĩ này của Inđônêxia đơn giản vì các nước EU là nước phát triển còn Inđônêxia là nước đang phát triển nên không thể có đủ khả năng làm điều đó. Lý do hợp lý, song không phải lúc nào cũng thoả đáng. Theo quan điểm giống như vậy, liệu chúng ta có thể từ bỏ xe ô tô hay phá huỷ những toà nhà chọc trời hay vứt bỏ những đồ dùng hiện đại khác không phù hợp ở các nước đang phát triển không?. Vấn đề là liệu tất cả chúng ta có nhất trí cho rằng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền và nguyên tắc phòng ngừa” là đúng và cần thiết cho Inđônêxia không?.

Và chúng ta có nhất trí là bất cứ ai tiêu thụ nhiên liệu dầu mỏ và phát thải khí nhà kính đều là đối tượng gây ô nhiễm không (mà không quan tâm xem họ nghèo hay giàu, cá thể hay ngành công nghiệp, nhà nước hay tư nhân)?. Chúng ta có thể đánh giá thực tế  là mức tiêu thụ nhiên liệu dầu mỏ hiệu quả hay đang sử dụng quá mức?

Người tiêu dùng ở Inđônêxia và ở khắp mọi nơi trên thế giới “nghiện” sử dụng dầu mỏ và trong khi một số nước đang phấn đấu chữa căn bệnh này bằng cách tăng giá để hạn chế sử dụng, phải chăng chúng ta vẫn muốn thoả mãn cơn “nghiện” này bằng cách cung cấp dầu với mức giá rẻ “giả tạo”. Vì giá dầu mỏ không ổn định, nên sẽ có lúc giá dầu mỏ hạ thấp và tài liệu ghi chép trong lịch sử cho thấy mức tiêu thụ sẽ lại tăng đỉnh điểm.

Thế nhưng liệu việc đánh thuế nhiên liệu dầu mỏ sẽ không làm cho cuộc sống của người nghèo khó khăn hơn?. Và đó là lý do tại sao: số tiền mà người nghèo nộp thuế, chính phủ sẵn sàng trả lại họ (bằng cách phân biệt mức tiêu thụ với người giàu). Khác với việc xoá bỏ trợ cấp, thu nhập từ việc đánh thuế nhiên liệu dầu mỏ sẽ mở ra nhiều cơ hội hơn để bảo vệ và cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường.

Tuy nhiên, đánh thuế nhiên liệu dầu mỏ ngoài việc thoả mãn một phần lợi ích đó còn thể hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và nguyên tắc phòng ngừa để bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Đây còn là cách “giảm nhẹ” cho ngân sách nhà nước khi nguyên tắc “trung hoà lợi tức” được thông qua, còn là biện pháp mềm dẻo trong việc dành lợi tức để giảm nghèo đói.

Trung hoà lợi tức còn có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không cần nộp lợi tức vì phần lợi tức có thể được sử dụng để bù vào phần mà người sử dụng lao động đóng góp cho bảo hiểm xã hội. Tóm lại, cần phải trừng phạt những hành động gây hại tới môi trường tự nhiên và xã hội không chỉ bằng công cụ chỉ huy và kiểm soát mà cả bằng cơ chế khuyến khích và không khuyến khích vì trợ cấp xã hội ngày càng lớn.

Nguồn: Ecoearth, 10/2005


 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia