Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Các vấn đề của thiên niên kỷ đô thị

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 10/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường
Từ khoá : Đô thị Môi trường
Nội dung:
 Năm 1950, cứ 3 người thì có gần một người sống ở thành phố hay thị trấn. Hiện nay, gần nửa dân số thế giới sống ở đô thị. Đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ là hơn 60%.
 Trong một phần tư thế kỷ tới, tăng dân số hầu hết diễn ra ở các đô thị thuộc các nước kém phát triển. Tăng dân số nhanh nhất sẽ diễn ra ở các đô thị có số dân dưới 500.000 người chứ không phải là các thành phố lớn hơn.
 Năm 2000, thế giới có 402 thành phố với số dân từ 1 đến 5 triệu người; và 22 thành phố có số dân từ 5 đến 10 triệu người. Năm 1950, New York là thành phố duy nhất có số dân hơn 10 triệu. Đến năm 2015, có 23 thành phố như New York, trong đó 19 thành phố ở các nước đang phát triển.
 Tại các nước phát triển hơn, 75% dân số sống trong đô thị. Ở châu Á, tỷ lệ này là dưới 40%, nhưng số dân đô thị của cả khu vực này là 1,5 tỷ người, nhiều hơn châu Âu, châu Mỹ La tinh, châu Đại dương và Bắc Mỹ cộng lại. Châu Phi là châu lục có tốc độ đô thị hoá thấp nhất, song dân số đô thị tăng nhanh nhất.
 Trong thế giới phát triển, đô thị hoá diễn ra gần như đồng thời với tăng trưởng kinh tế và tăng các mức phúc lợi, nhưng đối với các nước đang phát triển lại không như vậy. Ví dụ, châu Phi có hơn 70% dân đô thị – hơn 160 triệu người, sống trong các khu ổ chuột. Từ 1990, dân số đô thị sống trong các khu ổ chuột tăng gần 5%/ năm và cứ 15 năm thì xu thế này sẽ tăng gấp đôi.
 Có ít nhất 1 tỷ người ở châu Á, châu phi và Mỹ La tinh sống trong các khu ổ chuột tồi tàn, các khu định cư bất hợp pháp và không có các dịch vụ do chính quyền thành phố cung cấp. Đến 2020, con số này có thể tăng lên hơn 2 tỷ người.
 Một trong những chỉ tiêu của Mục tiêu  về phát triển thiên niên kỷ 7  (đảm bảo tính bền vững môi trường) là, đến năm 2020 phải cải thiện đáng kể cuộc sống của ít nhất 100 triệu người sống ở các khu ổ chuột. Các yếu tố môi trường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong, bệnh tật và mất năng suất và tất cả các hậu quả này càng làm cho đói nghèo thêm dai dẳng.
 Nước không an toàn và điều kiện vệ sinh không thoả đáng là những nguy cơ điển hình của cuộc sống tại các khu ổ chuột. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tử vong ở trẻ và là nguyên nhân chính làm cho 12% tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển - hàng năm có 1,3 triệu em tử vong.
 Người dân sống ở các khu ổ chuột còn phải vận lộn với chất lượng không khí tồi tàn. Có khoảng 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm do nhiễm bệnh về đường hô hấp cấp. Đây là căn bệnh gây tử vong nhiều nhất ở trẻ em, mức độ lây nhiễm ngày càng trầm trọng hơn do các tác động của các yếu tố môi trường, như ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời.
 Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn 1,5 tỷ dân thành thị thường xuyên phải hứng chịu các mức ô nhiễm không khí ngoài trời vượt các mức tối đa cho phép. Có tới một nửa triệu dân bị chết có thể do ô nhiễm bụi và sulphur dioxide chủ yếu phát thải từ xe cộ. Một công trình nghiên cứu ước tính cứ 5 trường hợp ung thư phổi tại Hoa Kỳ thì có một trường hợp là do ô nhiễm giao thông.
 Đốt rác, chủ yếu là chất dẻo và chất thải nguy hại khác cũng ảnh hưởng xấu đến chất lượng không khí. Toàn bộ chi phí y tế do ô nhiễm không khí gây ra ước tính ngốn 1 tỷ USD. Tại các nước phát triển, các chi phí khắc phục ô nhiễm không khí chiếm gần 2% GDP; tại các nước đang phát triển, con số này vào khoảng 5 đến 20 %.
 Phát điện, công nghiệp và giao thông – gắn liền với các thành phố và thị trấn thuộc thế giới phát triển- là nguyên nhân chủ yếu phát thải CO2 – một khí nhà kính chủ yếu gây biến đổi khí hậu.
 Theo đánh giá, trong một phần tư thế kỷ tới các mức phát thải CO2 chủ yếu từ ôtô, xe tải và các nhà máy điện, sẽ tăng 60%. Hơn 2/3 mức tăng phát thải này là từ các nước đang phát triển do tăng trưởng kinh tế nhanh và tăng đáng kể sở hữu ôtô riêng.
 Biến đổi khí hậu là mối đe doạ đối với các thành phố và thị trấn ven biển nằm ở vị trí thấp do mực nước biển dâng cao và do những cơn bão tàn khốc xảy ra thường xuyên hơn. Dân số đô thị tăng, chủ yếu là dân sống trong các khu ổ chuột – dễ bị tổn thương bởi thiên tai. Khoảng 40% dân số thế giới sống trong khu vực cách bờ biển 60 km.
 Đô thị hoá và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo đầu người tăng lên. Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn các nước đang phát triển 6 lần.
 Các thành phố có thể phải chi đến hơn 30% ngân sách để tiêu huỷ chất thải, chủ yếu chi phí cho việc vận chuyển. Các khoản chi này thường đội lên rất nhiều do diện tích đất thích hợp bị thu hẹp khi mà các khu đô thị mở rộng và giá đất tăng lên.
 Chi phí quản lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển có thể lên tới 50% ngân sách hàng năm. Ngoài ra, còn thiếu cơ sở hạ tầng để xử lý an toàn chất thải. Khoảng 30% đến 60% lượng chất thải rắn đô thị không được thu gom và chỉ có dưới 50% dân số đô thị được cung cấp dịch vụ thu gom.
 Các thành phố và thị trấn càng phát triển thì càng phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tài nguyên cũng như tác động môi trường - mà người ta thường gọi là “dấu chân sinh thái.”
 Dấu chân sinh thái của London, Vương quốc Anh rộng gấp 120 lần diện tích thành phố này. Một thành phố cỡ trung bình của Bắc Mỹ với số dân 650.000 người cần diện tích đất là 30.000 km2 để phục vụ các nhu cầu của thành phố. Trái lại, một thành phố có diện tích tương tự nhưng kém khả giả hơn ở Ấn Độ chỉ cần 2.800 km2.
 Từ 1950, tổng mức tiêu thụ nhiên liệu đã tăng 500%. Mức tiêu thụ nước tăng gấp đôi tính từ 1960 và công suất đánh bắt hải sản tăng gấp 4 lần. Một thành phố với 10 triệu dân, như Manila, Cairo hoặc Rio de Janeiro- mỗi ngày phải nhập ít nhất là 6.000 tấn thực phẩm.
 Hơn một nửa lượng nước ngọt khai thác cho con người được sử dụng để cung cấp cho các khu đô thị: công nghiệp, nước uống và sinh hoạt, hoặc tưới nước cho cây trồng. Có tới 65% lượng nước sử dụng để tưới bị thất thoát.
 Nhiệt độ không khí ở đô thị có thể nóng hơn các vùng nông thôn xung quanh tới 5oC một khi thảm che phủ đất tự nhiên bị thay thế bằng đường sá và các toà nhà. Hiện tượng này còn gọi là “hiệu ứng đảo nhiệt” và có thể giảm thiểu được bằng cách gìn giữ và tạo ra các không gian xanh trong các thành phố.
 Các diện tích xanh trong các khu dân cư đô thị phục vụ nhiều mục đích khác. Các cánh rừng đô thị sản sinh ra ôxy và hấp thụ các-bon-nic, như vậy sẽ tăng cường chất lượng không khí. Các diện tích xanh này còn giúp kiểm soát nước mưa và tạo ra nơi cư trú cho động vật hoang dã đô thị.
 Nếu quản lý hợp lý, các khu dân cư đô thị có thể còn hỗ trợ số dân tập trung ngày càng tăng, hạn chế tác động tập trung đông dân đối với môi trường và cải thiện sức khoẻ và mức sống của người dân đô thị. Pháp luật và các khoản trợ cấp của nhà nước và thành phố có thể hạn chế chất thải, khuyến khích bảo tồn và thúc đẩy các giải pháp bền vững.
 Những ví dụ quản lý hợp lý bao gồm việc sử dụng cái gọi là nước xám để dội nhà xí; xe ít gây ô nhiễm và các hệ thống giao thông công cộng hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề tắc nghẽn các nút giao thông và làm sạch bầu không khí; chiếu sáng ít năng lượng để tiết kiệm năng lượng và các kế hoạch tái chế chất thải.
 Có rất nhiều ví dụ của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp và công nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện những giải pháp cải tiến để giải quyết những vấn đề của thiên niên kỷ đô thị và tạo ra các Thành phố Xanh. Hãy kết nối với các hoạt động của họ và  truy nhập các thông tin về đô thị hoá và môi trường được đăng tải trên trang chủ: Website:http://www.unep.org/wed/2005/english Nhân Ngày Môi trường thế giới.
Nguồn: ENN, 4/2005
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia