Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2005 » Số 8 » Môi trường toàn cầu » Báo cáo mới về biện pháp bảo vệ tầng ôzôn, chống biến đổi khí hậu

Báo cáo mới về biện pháp bảo vệ tầng ôzôn, chống biến đổi khí hậu

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 8/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87.99 Các vấn đề khác của bảo vệ môi trường
Từ khoá : Tầng ôzôn Bảo vệ
Nội dung:
Sau 20 năm bảo vệ tầng ôzôn cùng với sự phát thải các hoá chất mới, chính phủ các nước đang đương đầu với thực tế là những chất thay thế CFCs (chlorofluorocarbons) thân thiện với ôzôn cũng tạo ra khí nhà kính, góp phần gây nóng lên toàn cầu. 
Để đánh giá mức độ của vấn đề và những giải pháp khả thi, Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), cộng tác với Uỷ ban đánh giá công nghệ và kinh tế (TEAP) đã đưa ra một báo cáo riêng nhan đề: “Bảo vệ tầng ôzôn và hệ thống khí hậu toàn cầu: Những vấn đề liên quan tới hydrofluorocarbon (HFCs) và perfluorocarbons (PFCs)”.
Kết quả sau 2 năm hoạt động của 145 chuyên gia từ 35 quốc gia, báo cáo được hoàn thành, được đưa ra tại cuộc họp ở Addis Ababa, Ethiopia từ ngày 6-8/4/2005.
Trong báo cáo xác định, áp dụng những biện pháp khác nhau có thể cắt giảm một nửa lượng CFCs và những chất thay thế gây nóng lên toàn cầu vào năm 2015.
Năm 1988, Tổ chức khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã thành lập Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu gọi tắt là IPCC. Và TEAP được thành lập theo Nghị định thư (NĐT) Montreal năm 1987 về các chất gây suy giảm tầng ôzôn do UNEP quản lý.
Michel Jarraud, Tổng thư ký WMO cho biết: “Mặc dù biến đổi khí hậu và phá huỷ tầng ôzôn là hai vấn đề khác nhau cơ bản, nhưng việc sử dụng các hoá chất nhất định làm cho các vấn đề này có quan hệ với nhau. Chúng ta phải không ngừng giám sát, cam kết nghiên cứu và hoàn thiện biện pháp quản lý nhóm các chất rất hữu ích có liên quan đến cả hai vấn đề môi trường lớn mà chúng ta từng biết”.
Theo NĐT Montreal, các chính phủ trên thế giới đang cam kết loại bỏ dần khí CFCs, halon và các chất hoá học phá huỷ tầng ôzôn khác và thay thế chúng bằng những chất an toàn hơn. Tuy nhiên, giống như khí CFCs, một số chất thay thế như hyđrôcloflocácbon (HCFCs), hyđrôflocácbon (HFCs) và perflocácbon (PFCs) cũng là khí nhà kính có tác động mạnh.
Vì lý do này, chính phủ các nước đã bổ sung thêm HFCs và PFCs vào Công ước về biến đổi khí hậu năm 1992 và NĐT Kyoto năm 1997, hầu hết các nước phát triển sẽ phải giảm phát thải 6 loại khí nhà kính vào giai đoạn 2008 – 2012.     
Ông Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết: “Có thể không có sự thoả hiệp giữa bảo vệ tầng ôzôn với giảm thiểu biến đổi khí hậu, song điều này nằm trong khả năng của chúng ta nhằm duy trì động lực của NĐT Montreal và NĐT Kyoto trong khi vẫn đạt được những mục tiêu của NĐT Kyoto. Báo cáo cũng cho thấy nhiều giải pháp “được- được” là sự cạnh tranh về chi phí khi so sánh với những lựa chọn biện pháp giảm điôxít cácbon và các khí nhà kính khác”.
Theo báo cáo, các phát thải CFCs và các chất thay thế chúng có thể giảm đến tối thiểu bằng các biện pháp sau :  
 Cải thiện chính sách ngăn chặn các hoá chất nhằm ngăn ngừa sự rò rỉ, bay hơi và phát tán các sản phẩm phụ không cố ý; 
 Giảm số lượng các loại thiết bị đặc biệt;     
 Khuyến khích áp dụng nhiều hơn các biện pháp thu hồi, tái chế và tiêu huỷ các chất đã hết tuổi thọ;   
 Tăng sử dụng amôniắc và các chất thay thế khác ít hoặc không có khả năng gây nóng lên toàn cầu;
 Sử dụng các công nghệ khác nhau, tránh dùng các loại khí làm suy giảm tầng ôzôn hoặc gây biến đổi khí hậu.
Chuyển sang sử dụng các hoá chất thân thiện với tầng ôzôn
Sự suy giảm tầng ôzôn xảy ra do sử dụng các hoá chất không phân huỷ, không cháy trong các máy làm lạnh, điều hoà, bình bọt, các bình xịt, các chất chống cháy và các dung môi bắt đầu vào giữa thế kỷ 20. Đến năm 1980, các nhà khoa học đã chứng minh rằng những hoá chất này đã phát tán vào khí quyển, phá huỷ các phân tử ôzôn, là phân tử bảo vệ sự sống của trái đất khỏi bức xạ mặt trời.      
Báo cáo xác nhận, việc các chính phủ nhanh chóng phê chuẩn và thực thi NĐT Montreal đã làm giảm quá trình sản xuất các loại khí gây suy giảm tầng ôzôn trên toàn cầu và cơ bản đã ổn định được tầng ôzôn. 
 Do HFCs và PFCs không chứa clo và brôm (là những chất chính gây suy giảm tầng ôzôn), chúng nằm trong số những chất thay thế lâu dài, nhưng đáng tiếc, chúng cũng là những khí nhà kính.
Góp phần gây nóng lên toàn cầu
CFCs và nhiều chất thay thế chúng là những khí nhà kính có tác động mạnh hơn điôxít cácbon nhiều nhưng mức độ phát tán thấp hơn. Sự đóng góp của CFCs, các chất thay thế chúng và các chất gây suy giảm tầng ôzôn khác hiện nay gây nóng lên toàn cầu ước tính khoảng 10% so với điôxít cácbon có liên quan đến nhiên liệu hoá thạch, hay khoảng 5% so với tổng lượng phát thải khí nhà kính do con người gây ra.
Hầu như tất cả các chất gây suy giảm tầng ôzôn và các chất thay thế chúng hiện nay được sử dụng ở các hệ thống kín, nói chung chúng không phát ra ngoài trong vài năm hay thậm chí vài thập kỷ kể từ khi được sản xuất. Ví dụ, lượng lớn CFCs hiện nay vẫn tồn tại trong thiết bị làm lạnh, thiết bị điều hoà không khí và bọt cách điện, chúng có thể bị rò rỉ hoặc bay hơi từ những thiết bị này. Khi thiết bị ngừng hoạt động, các chất này dễ dàng thoát vào khí quyển.
NĐT Montreal hay NĐT Kyoto không có những quy định ngăn chặn những phát tán đối với CFCs và HCFCs  Trong khi lượng HFCs và HCFCs tích trữ vẫn tiếp tục tăng.
Hiện nay, phát tán CFCs chiếm khoảng 65% trong tổng số phát tán từ các hoá chất này, chủ yếu do quá trình làm lạnh và thiết bị điều hoà không khí hiện nay. Do đó, việc giảm những rò rỉ từ các nguồn này có thể giảm được những phát thải khí nhà kính, điều này có lợi cho cả tầng ôzôn và hệ thống khí hậu.
Ước tính, hiện nay HCFCs chiếm khoảng 20% và HFC chiếm khoảng 15% các phát tán thuộc nhóm hoá chất này. Tuy nhiên, đến năm 2015, HFCs sẽ là 50%, và HCFCs là 40%, phụ thuộc vào các chất thay thế và các công nghệ được sử dụng. Những phát tán CFC có thể sẽ giảm khoảng 10% do giảm việc sử dụng mới và giảm phát triển từ những nguồn được tích trữ.
Ước tính chi phí       
Những nỗ lực giảm tối thiểu những phát tán các chất thay thế CFC đòi hỏi có kinh phí. Những chi phí ước tính sẽ có thay đổi lớn và phụ thuộc vào chủng loại và kích thước của từng bộ phận thiết bị riêng biệt và phương pháp sử dụng. Ví dụ, sử dụng chất thay thế HFCs trong tủ lạnh gia đình có thể chi phí từ 0 đến 30 USD, trong khi máy điều hoà trong ô tô có thể chi phí từ 48USD đến 180 USD.
Những chi phí cho thiết bị làm lạnh lớn hơn, như các hệ thống siêu thị quy mô lớn sẽ cao hơn nhiều. Các lò thiêu đốt để tiêu huỷ các sản phẩm phụ HFC trong quá trình sản xuất HCFC, có thể tốn hàng trăm tới hàng nghìn USD.
Tuy nhiên, khi so sánh với các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính khác, thì những chi phí này tương đối thấp. Ví dụ, chi phí cho việc tiêu huỷ HFC, thấp hơn 0,2 USD/1 tấn so với tiêu huỷ CO2.
Hơn nữa, nhiều biện pháp cũng sẽ giảm sử dụng năng lượng và do đó giảm được những chi phí cho năng lượng hàng năm cùng với giảm phát thải điôxít cácbon. Ví dụ, chi phí để giảm phát thải từ các thiết bị làm lạnh gia dụng và trong thương mại, thiết bị điều hoà không khí và thiết bị đun nóng có thể giảm từ 0 đến khoảng 170 USD/tấn CO2. Nếu có những cải tiến về hiệu suất năng lượng thì trong một số trường hợp có thể tiết kiệm được 75USD/tấn CO2 tương ứng.
Nguồn: UN, 4/2005
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia