TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 5/Bảo vệ môi trường |
| Đề mục | : | 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Cơ sở ô nhiễm ; Di dời |
| Nội dung: | ||
|
Theo kết quả tính toán, hàng năm các cơ sở sản xuất công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cùng nhiều hoạt động có liên quan công nghiệp đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì, 4.200 tấn CO2. Chính vì thế, tại nhiều khu vực nội thành nồng độ các chất ô nhiễm là khá cao.
TP. Hồ Chí Minh, sản xuất một phần ba lượng hàng hóa tiêu dùng của cả nước, có khoảng 22.500 cơ sở sản xuất lớn nhỏ khác nhau. Hiện nay, hầu hết các cơ sở này đều nằm xen kẽ trong khu dân cư. Trong đó, nhiều cơ sở có công nghệ sản xuất thô sơ, lạc hậu và những ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao như sản xuất hóa chất (thuốc nhuộm, sơn, thuốc bảo vệ thực vật...), luyện cán cao su, thuộc da, xi mạ, dệt vải, sản xuất thuốc lá, giết mổ gia súc, chế biến thực phẩm tươi sống..., mỗi ngày các cơ sở này thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Ðồng Nai khoảng 1,7 triệu m3 nước thải công nghiệp, làm ô nhiễm môi trường nước của các con sông, nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư thành phố. Trước tình trạng nói trên, Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phải di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội thành và tại kỳ họp Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố lần thứ 8 khóa VI (tháng 6-2002), nghị quyết thực hiện chương trình di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào các khu công nghiệp và vùng phụ cận được thông qua. Ðây là chủ trương đúng đắn có ý nghĩa quan trọng với đời sống kinh tế-xã hội thành phố. Thực hiện được chương trình này không chỉ để xử lý ô nhiễm, chỉnh trang đô thị mà còn nhằm quy hoạch, sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu sản xuất công nghiệp. Ngoài ra, còn thực hiện việc bố trí lại dân cư theo hướng giãn dân từ nội thành ra ngoại thành, góp phần giải quyết nạn kẹt xe đô thị, giảm mật độ dân cư nội thành. Thực hiện nghị quyết của Hội đồng HĐND, UBND Thành phố đề ra nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm. Quyết định 81 của UBND Thành phố quy định một số chính sách tài chính hỗ trợ cho việc di dời. Tháng 7-2002, UBND Thành phố lập Ban Chỉ đạo di dời các cơ sở ô nhiễm. Công tác di dời được triển khai từ ban chỉ đạo thành phố đến ban chỉ đạo quận, huyện, các doanh nghiệp, UBND các quận, huyện chủ động tìm địa điểm di dời. Tháng 9-2003, UBND Thành phố ra Quyết định số 178 giao 200 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tập trung cho Ban chỉ đạo di dời phục vụ cho công tác này. Ðể hạn chế và ngăn chặn các ngành nghề sản xuất gây ô nhiễm, thành phố ban hành danh mục 17 ngành nghề không cấp giấy phép mới trong khu vực dân cư. Qua hai năm thực hiện, chương trình di dời đạt một số kết quả khả quan ban đầu. Nhiều đơn vị gây ô nhiễm môi trường bị dân cư khiếu nại đã có chuyển biến như: Tháng 4-2003, toàn bộ bãi than gây ô nhiễm trên địa bàn phường 25, quận Bình Thạnh đã được dời đi; Xí nghiệp thuộc da Bình Lợi; Công ty cổ phần thủy tinh Gò Vấp... đã thực hiện tốt việc di dời. Trước áp lực bảo vệ môi trường và cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khi thực hiện di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp đều kết hợp việc đổi mới trang thiết bị, đầu tư cơ sở khang trang hiện đại. Do vậy, khi Nhà nước có chính sách hỗ trợ, đã tạo thêm động lực cho doanh nghiệp di dời kết hợp hiện đại hóa. Chương trình di dời còn tạo điều kiện giải quyết việc làm cho lao động vùng nông thôn ngoại thành. Ban Chỉ đạo di dời còn chủ động liên kết với các tỉnh trong khu vực nhằm thu hút số lượng lớn các doanh nghiệp di dời vào các khu công nghiệp thuộc các tỉnh, nhất là những doanh nghiệp thuộc các ngành phụ thuộc nguồn nguyên liệu trong nước như sản xuất bột giấy, thuộc da, chế biến than... vào các khu công nghiệp như khu công nghiệp Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh); khu công nghiệp Nhơn Trạch, khu công nghiệp Ðồi Giang Tới (Ðồng Nai); Khu công nghiệp Cần Giuộc (Long An)... Cho đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã phê duyệt 1.235 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm phải di dời. Trong đó có 134 doanh nghiệp nhà nước (92 doanh nghiệp thuộc thành phố, 42 doanh nghiệp thuộc Trung ương); 27 công ty cổ phần có vốn Nhà nước; 256 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân); 818 cơ sở sản xuất, kinh doanh. Qua hai năm thực hiện chương trình đã có 532/1.235 cơ sở sản xuất di dời, chuyển đổi ngành nghề, ngừng sản xuất, khắc phục ô nhiễm, trong đó có 43 Doanh nghiệp nhà nước (33 doanh nghiệp thành phố và 10 doanh nghiệp trung ương); 116 doanh nghiệp ngoài quốc doanh; 373 cơ sở sản xuất, kinh doanh. Triển khai công tác di dời, Thành phố chưa lường hết được những khó khăn trong công tác chuẩn bị quỹ đất, địa điểm để tiếp nhận doanh nghiệp, trong khi nhu cầu cần hơn 730 ha, nhưng đến nay, thành phố chỉ có khoảng 127 ha đất tại các khu công nghiệp sẵn sàng cho thuê. Một số khu công nghiệp còn quỹ đất, nhưng chưa giải phóng được mặt bằng, hoặc hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ. Các điều kiện cần thiết của các khu công nghiệp được quy hoạch tiếp nhận các cơ sở di dời chưa được chuẩn bị tốt. Có 6/15 khu công nghiệp chưa triển khai quy trình xử lý nước thải công nghiệp. Nhiều khu công nghiệp gặp khó khăn về các công trình ngoài tường rào cùng các dịch vụ cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông chưa đáp ứng yêu cầu. Khu công nghiệp Hiệp Phước là nơi được quy hoạch để tiếp nhận các cơ sở sản xuất ô nhiễm nguồn nước, nhưng lại không đủ nước để cung cấp cho các doanh nghiệp mới đến. Tình trạng kẹt xe kéo dài, việc cung cấp điện, nước chưa ổn định gây tâm lý ngán ngại cho các cơ sở, làm chậm tiến độ di dời. Các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm tự nguyện tìm địa điểm di dời, thường gặp khó khăn về vốn hoặc bị vướng quy hoạch, thủ tục giao đất. Việc thực hiện bán mặt bằng, nhà xưởng của doanh nghiệp để có kinh phí di dời rất chậm. Có những trường hợp cơ sở sản xuất của Nhà nước trong diện di dời đã được Nhà nước định giá, nhưng vẫn chưa bán được. Nhiều khu công nghiệp còn chưa muốn tiếp nhận các cơ sở sản xuất nhỏ (chiếm tỷ lệ rất lớn trong danh sách di dời) vì các cơ sở này không đủ vốn đầu tư, nên thuê đất có diện tích nhỏ từ 1.000 m2 - 2.000 m2 làm cho các khu công nghiệp bị xé nhỏ, manh mún, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư cho thuê đất. Mặt khác, hầu hết các khu công nghiệp có quy hoạch chi tiết chỉ dành cho các doanh nghiệp có quy mô lớn; thiếu quy hoạch các cụm tiểu thủ công nghiệp - làng nghề dành cho các cơ sở sản xuất nhỏ, v.v... dẫn đến các cơ sở khó chủ động được tiến độ di dời. Có những ngành không có khu công nghiệp hay huyện nào của thành phố chấp nhận cho doanh nghiệp di dời đến như ngành chế biến than. Ðến nay, quận 8 vẫn chưa tìm được địa điểm để di dời các cơ sở xi mạ, nhuộm vải, chế biến nước mắm, nước chấm. Về kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ, mới có 28 cơ sở sản xuất thuộc diện di dời được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Trong đó 16 đơn vị được ngân sách thành phố chi hơn 11 tỷ đồng trên tổng vốn 200 tỷ đồng, chiếm 6,83%. Nguyên nhân do chính sách ưu đãi di dời các cơ sở gây ô nhiễm còn bất cập và chưa phù hợp với thực tế như các cơ sở sản xuất thành lập sau khi có Luật bảo vệ môi trường (năm 1993) thì không được hưởng chính sách ưu đãi di dời, trong khi số lượng các sơ sở này chiếm tỷ lệ rất cao. Theo Nghị quyết của HÐND thành phố chương trình di dời được gia hạn và hoàn thành vào cuối năm 2005 với doanh nghiệp thành phố và giữa năm 2006 đối với doanh nghiệp Trung ương. Hiện nay, tiến độ thực hiện di dời của các cơ sở gây ô nhiễm của các doanh nghiệp Trung ương chậm hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác. Hiện có 5/30 doanh nghiệp (chiếm 16%) thuộc Bộ Công nghiệp đã thực hiện việc di dời, ngừng hoạt động chuyển đổi ngành nghề, khắc phục ô nhiễm tại chỗ. Số các doanh nghiệp còn lại vẫn đang tiếp tục gây ô nhiễm môi trường và bị nhân dân khu vực khiếu nại. Trong suốt hai năm triển khai, Thành phố Hồ Chí Minh mới thực hiện di dời được 532/1.235 cơ sở chiếm 43%. Theo kế hoạch cùng với những khó khăn đã nêu trên, đòi hỏi thành phố phải có những biện pháp tích cực, triệt để, quyết tâm hơn nữa, mới có thể thực hiện được đúng tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm như Nghị quyết HÐND thành phố đã đề ra. Nguồn: Nhân dân, 05/03/2005 |
||
