Thiếu nước và những nguy cơ nóng lên toàn cầu ở các đảo Ấn Độ Dương |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2005/Số 2/Môi trường toàn cầu |
| Đề mục | : |
87.33 Thiên tai và thảm hoạ. Sự cố môi trường
87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Nước ; Sóng ; Chất thải ; Biến đổi khí hậu ; Ấn Độ Dương |
| Nội dung: | ||
|
Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), vấn đề thiếu nước ngọt và nóng lên toàn cầu là mối quan tâm hàng đầu, đang đe dọa đến sức khỏe và tài sản của những người dân ở các đảo nhỏ thuộc vùng biển Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Thậm chí các đảo “mưa nhiều” như Seychelles cũng đang gặp khó khăn về nước, do 98% lượng nước mưa hiện nay bị chảy ra biển hoặc bốc hơi. Các chuyên gia cho rằng, những khoản đầu tư không lớn vào hệ thống thu gom nước mưa cũng có thể giải quyết được một phần khó khăn này.
Nước ngọt
Những quốc gia khan hiếm nước nhất ở Ấn Độ Dương là Comoros và Maldives, lượng nước tính theo đầu người ở mức hoặc dưới ngưỡng khan hiếm nước là 1700 m3/người/năm, trong khi đó ở Maldives chỉ có 103 m3/người/ năm. Đây là nguyên nhân chính làm tăng thách thức, đặc biệt ở những khu đô thị. Chưa có con số chính xác về lượng nước ngọt ở đảo Seychelles, nơi mà hầu hết nước bắt nguồn từ các con sông, nhưng tình trạng thiếu nước đang là vấn đề gay go suốt từ năm 1998, hậu quả này một phần do sự khắc nghiệt của hiện tượng El Nino, làm cho các ngành công nghiệp sản xuất bia, rượu và cá hộp buộc phải ngừng hoạt động. Mahe, là một phần của đảo Seychelles, nơi đây tình trạng thiếu nước đang gia tăng, gây ra các bệnh héo lá, làm thiệt hại đến các loại cây trồng như loài Pterocarpus indica có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lưu vực sông. Ở Maldives, mực nước ngầm đang bị hạ thấp do hậu quả của việc khai thác quá mức và hiện nay lượng nước ngầm còn ít hơn so với trước đây. Báo cáo ước tính đến năm 2050, nhu cầu nước ở những đảo này sẽ tăng gần gấp đôi. Ở Comoros, nguồn nước không đủ để đáp ứng những nhu cầu hiện tại, trong tương lai, tình hình này sẽ trở nên xấu hơn. Nguồn nước khan hiếm ở Grande Comore, Moheli và Anjouan bị đe dọa bởi sự cân bằng mỏng manh giữa nước ngọt và nước biển, khả năng ô nhiễm tiềm tàng nguồn nước ngầm do thẩm thấu qua những bể phốt, thiết bị xử lý chưa đủ tiêu chuẩn và thiếu máy bơm nước. Các yếu tố khác có thể làm giảm chất lượng nguồn nước uống bao gồm tình trạng ô nhiễm do nông nghiệp và các loại chất thải. Ví dụ, ở đảo Cheychelles, lượng phân bón được sử dụng nhiều, tính trung bình mỗi ngày các dòng sông tiếp nhận khoảng 25kg phân bón. Nhiều giếng ở Mauritius có hàm lượng nitrat cao, khoảng 50 microgram/lít, bằng mức giới hạn của Tổ chức Y tế thế giới. Mauritius sử dụng trung bình 57.500 tấn phân/năm, tương đương với 60 kg/ha, hoặc gấp 3 lần ở Tây Âu. Các căn bệnh có khả năng lây nhiễm lan tràn ở vùng nhiệt đới, phát sinh từ nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải của con người gây ra. Chẳng hạn, vào năm 1975, 1998 và 2001, bệnh dịch tả đã hoành hành ở Comoros. Ở Madagascar, có tới 25% trẻ em có thể bị nhiễm bệnh trong suốt mùa mưa do chất lượng nước kém và ô nhiễm nước thải. Để đáp ứng nhu cầu về nước, Mauritius và Maldives đã đầu tư lớn vào các hệ thống dẫn nước, 100% người dân của các nước này hiện nay được sử dụng nước sạch. Tuy nhiên, một nửa lượng nước tiêu thụ ở Mauritius bị thất thoát do rò rỉ và theo đánh giá đến năm 2025, khu vực nông thôn sẽ là nơi khan hiếm nước trầm trọng. Trong khi đó, ở đảo Seychelles đang tiến hành biện pháp khử mặn – đây là quá trình tách muối ra khỏi nước biển. Tuy nhiên, biện pháp khử mặn làm tăng gánh nặng cho ngành điện quốc gia, vì toàn bộ điện năng phải nhập khẩu, vì vậy trong tương lai xa, nó ảnh hưởng đến tình hình kinh tế của đất nước. Báo cáo của UNEP cho biết, tình trạng thiếu nước ngọt ở các đảo này có thể sẽ trầm trọng hơn do nhu cầu về nước và quá trình biến đổi khí hậu gia tăng. Sóng triều Vấn đề phức tạp theo chương trình nghị sự sẽ là một hệ thống cảnh báo sớm để báo động sóng triều hay sóng thần cho các đảo nhỏ và các vùng duyên hải nằm ở mức thấp ở vùng Ấn Độ Dương sau thảm họa chưa từng có xảy ra trong khu vực này vào ngày 26/12/2004. Ông Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cho biết: “Vấn đề cấp bách nhất đối với những quốc gia chịu tổn thất do sóng triều phá hủy là làm giảm bớt nỗi đau mất mát bằng việc triển khai nhanh trợ cấp nhân đạo, bao gồm: lương thực, nơi ỏ và thuốc, kế tiếp là việc cung cấp các nguồn nước, năng lượng, đây là những ưu tiên. Khi thiên tai xảy ra, chúng ta cần đánh giá tác động môi trường như ô nhiễm đất và các rạn san hô bị huỷ hoại, các đầm lầy rừng ngập mặn và những nơi cư trú ở bờ biển quan trọng khác. Một số chính phủ trong khu vực đã yêu cầu tiến hành xây dựng hệ thống cảnh báo sớm. Chi phí cho hệ thống có thể cao, nhưng cũng chưa thể bằng nỗi đau và sự mất mát mà người dân phải gánh chịu. Nỗ lực quốc tế đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và sự cộng tác của các trung tâm trên toàn thế giới ở các khu vực như Caribbean, các quốc gia đang phát triển thuộc đảo nhỏ (SIDS) ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Ông Toepfer cho biết: “các quốc đảo nhỏ đang phát triển là các quốc gia dễ bị tổn thương về môi trường và kinh tế nhất thế giới. Nhiều quốc gia cách trở về địa lý và phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn như nước ngọt, đất và rừng. Nhiều quốc gia lại bị đe dọa do biến đổi khí hậu, do tình hình thời tiết khắc nghiệt hơn và mực nước biển dâng cao”. Ông cho rằng, hơn 10 năm qua, SIDS thuộc Ấn Độ Dương đã đạt được nhiều kết quả như Mauritius và Seychelles đã xây dựng kế hoạch thu gom và chôn lấp chất thải có tổ chức, đồng thời Comoros và Mauritius là những thành viên của Chương trình biển khu vực của UNEP. Kế hoạch hành động của Đông Phi tập trung vào các luật phát triển, công tác bảo vệ, xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt chú trọng vào những nguyên nhân, các biện pháp khắc phục ô nhiễm và suy thoái biển và bờ biển. Trong khi một số nước khác đang nỗ lực đối phó và thích nghi với biến đổi khí hậu thì Mauritius, là nước đầu tiên phê chuẩn Hiệp ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, xây dựng các trạm quan trắc và phân tích mực nước biển theo nội dung của dự án thí điểm về những tác động của biến đổi khí hậu tới bờ biển. Dự án này do UNEP, Ủy ban Ấn Độ Dương và Tổ chức khí tượng thế giới tài trợ. Bộ luật ứng phó với bão, bước đầu đã được chuẩn bị để áp dụng cho các đảo nhỏ ở phía Đông Caribbean, hiện nay đang được giới thiệu cho SIDS, Ấn Độ Dương và các chuyên gia thời tiết đang mở các khóa đào tạo nâng cao về dự báo các cơn bão xoáy. Ông Toepfer cho biết: “ Chúng ta cần tiến hành nhiều hành động hơn nữa nếu trong thế kỷ 21 này, nếu chúng ta muốn có sự lành mạnh môi trường ở các đảo và các nền văn hóa phong phú và đáng tự hào của những nước này. Để đưa ra các quyết định hợp lý, cần có một ngành khoa học đúng đắn. Những đánh giá mới của SIDS sẽ giúp chúng ta càng nỗ lực mạnh mẽ và tập trung để giúp đỡ các quốc đảo nhỏ và người dân ở đây có được một tương lai bền vững hơn”. Biến đổi khí hậu Hiện nay các đảo ở Ấn Độ Dương, từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm phải chịu tới 10 trận bão hoặc lốc nhiệt đới. Nóng lên toàn cầu làm cho các đảo thuộc Ấn Độ Dương dễ bị tổn thương, các sự kiện thời tiết khắc nghiệt hơn gồm sóng cồn dữ dội và gia tăng ảnh hưởng của sóng tới các nguồn cung cấp nước, nông nghiệp, xói mòn bờ biển, sức khỏe các rạn san hô và nghề đánh bắt. Các báo cáo cho biết: “tác động của biến đổi khí hậu rất rõ rệt, tần suất và cường độ các sự kiện tự nhiên khắc nghiệt đang gia tăng ở các quốc đảo nhỏ đang phát triển ở Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương”. Ở Madagascar, những ảnh hưởng của tăng mực nước biển chưa được theo dõi nhưng ở Comoros và Seychelles, một số bãi biển bị xói mòn do cường độ sóng tăng và các loại sóng triều bất thường. Khoảng 80% diện tích của Maldives thấp hơn mực nước biển 1 mét. Theo kịch bản của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC), trong 30 năm tới, nhiều vùng rộng lớn của Maldives có thể sẽ bị ngập chìm dưới nước và đến năm 2100, nước này sẽ bị nhấn chìm hoàn toàn trong nước. Chất thải Các báo cáo cho biết, một trong những vấn đề nguy cấp nhất ở các quốc gia trong khu vực đó là vấn đề chất thải rắn đang gia tăng. Những tác động bao gồm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngầm, nước mặt và các vùng đất ngập nước, suy thoái môi trường ven biển, ảnh hưởng đến các rạn san hô và thu hút du lịch bãi biển. Những tác động khác bao gồm sự bùng phát các bệnh do chất thải rắn, làm phát sinh các loài gây hại trên mặt đất như chuột và muỗi cũng như gây thiệt hại cho nghề đánh bắt cá và sự tích lũy các chất độc hại trong môi trường. Báo cáo chỉ ra rằng, việc xử lý chất thải không thích hợp đang tạo điều kiện cho các vật gây hại như chuột gây ra các bệnh dịch hạch, bệnh ghẻ và các bệnh nhiệt đới khác. Việc vứt bỏ chất thải, đặc biệt là các thùng chứa cũng đang làm tăng rủi ro lây nhiễm bệnh sốt rét, đặc biệt ở Madagascar và Comoros, các túi đựng hàng, từ túi nilon cũ đến các hộp sơn đều để chứa nước mưa, là điều kiện lý tưởng phát sinh các bệnh do côn trùng gây ra. Mauritius và Seychelles đã triển khai các kế hoạch quản lý chất thải hữu cơ. Ví dụ, ở Mauritius xây dựng cơ sở tái chế vật liệu bao gồm giấy, thủy tinh, nguyên liệu dệt, những kim loại quý hiếm và nhựa. Tuy nhiên, cả hai quốc gia này vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Ở Comoros, chất thải hầu như chưa được thu gom và xử lý, thường nằm rải rác ở khắp thành phố, cả nơi công cộng và các vùng nông thôn. Ủy ban Ấn Độ Dương đang cố gắng đưa ra kế hoạch phối hợp quản lý chất thải rắn ở khu vực Vịnh Itsandra thuộc Comoros. Ở Madagascar, chỉ có 6% chất thải và rác thải được thu gom thường xuyên. Hơn một nửa dân số vứt rác tùy tiện, cả trên và gần bãi biển và cả trong các đầm lầy nước mặn. Chỉ riêng thủ đô Antananarivo, ước tính lượng rác thải là 65.700 tấn. Vấn đề khó khăn mới là việc đổ chất thải ra biển làm tăng lượng chất thải ở biển, gây ô nhiễm bờ biển. Hậu quả là các đảo như Aldabara là di sản của thế giới, nơi nổi tiếng có loài rùa khổng lồ, hiện nay đang phải chịu một lượng lớn rác đang dạt vào bờ. Hành động cần thiết Các quốc đảo nhỏ đang phát triển thuộc đảo nhỏ trên toàn thế giới đang phải đối mặt với các giai đoạn kinh tế và môi trường bất ổn, gia tăng dân số và các mối đe dọa do biến đổi khí hậu. Nhiều đảo đang tăng cường hành động để đối phó với thách thức dưới hình thức các nhóm trong khu vực, nhằm tìm kiếm các biện pháp khắc phục những khó khăn. Hầu hết các nhóm đều là các thành viên tham gia các thỏa thuận đa phương bao gồm thỏa thuận về chất thải nguy hại, ảnh hưởng của nóng lên toàn cầu đến vận tải biển, đánh bắt và đa dạng sinh học. Những kết quả đáng kể thể hiện sự thành công rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ở nhiều khu vực như giáo dục, cung cấp nước uống và sức khỏe. Nhưng cũng có nhiều mục tiêu bị lấn át do suy thoái môi trường và phát triển không bền vững. Hầu hết các đảo còn gặp nhiều khó khăn do nằm xa đất liền, tổng thu nhập quốc nội (GNP) thấp, ít cơ hội kinh tế để xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và những khó khăn trong việc tiếp cận các công nghệ mà họ cần. Cộng đồng thế giới phải dựa vào các mục tiêu của Hội nghị Mauritius để thay đổi cam kết bảo vệ những nền văn hóa, xã hội độc đáo bằng cách làm tăng nguồn tài nguyên sẵn có, chuyển giao công nghệ thích hợp và xây dựng năng lực cho các chính phủ, các ngành công nghiệp và xã hội dân sự để vượt qua những thách thức . Tuy nhiên, hy vọng lớn nhất của cộng đồng thế giới là mục tiêu giảm hơn 60% lượng khí nhà kính. Nhiều đảo như đảo Maldives, có thể giảm được khả năng dễ tổn thương và thích nghi với mực nước biển gia tăng trong thời gian dài. |
||
