Quản lý tổng hợp hoá chất trong thế giới đang phát triển |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số 23/Hoá chất và môi trường |
| Đề mục | : | 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Quản lý ; Tổng hợp ; Hoá chất ; Thế giới ; Phát triển |
| Nội dung: | ||
|
Từ năm 1994, ngành công nghiệp hoá chất đã có bước chuyển biến quan trọng nhằm đáp ứng những thách thức của nền kinh tế, ngành công nghiệp này có tiềm năng to lớn thúc đẩy tăng trưởng của các ngành khác. Đại diện chính phủ, ngành công nghiệp hoá chất và các tổ chức lao động đã tham gia xây dựng chiến lược quốc gia để nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của ngành. Trong kế hoạch chiến lược về nhu cầu cạnh tranh đối với quản lý an toàn hoá chất, các bên tham gia đã nhất trí một số nội dung cơ bản có liên quan tới vấn đề này. Các sáng kiến quốc tế
Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp phải tuân thủ các quy định chặt chẽ nhất thế giới. Trong nhiều yếu tố, thì sức cạnh tranh của công nghiệp toàn cầu tuỳ thuộc vào sự thể hiện năng lực thực hiện các sáng kiến quốc tế ở cấp quốc gia. Những phát triển toàn cầu gần đây cho thấy, nhu cầu tổ chức các diễn đàn thảo luận đa phương về nghiên tổng hợp quản lý hoá chất ngày càng tăng. Các cam kết quốc tế được đưa ra bàn thảo trong các diễn đàn có thể chia thành hai loại: các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc và các sáng kiến quốc tế khác. Các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc gồm: Ø Công ước về các vũ khí hoá học; Ø Công ước chống buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các chất gây tác hại tâm thần; Ø Nghị định thư Ø Công ước Ø Công ước Các sáng kiến quốc tế khác gồm: Ø Kế hoạch hành động Ø Các công ước ILO về sử dụng an toàn các hoá chất; Ø Hệ thống phân loại hài hoà toàn cầu và dán nhãn các hoá chất (GHS); Ø Các sáng kiến xây dựng năng lực khác Rõ ràng là có hàng loạt hiệp lực tiềm năng nằm trong các sáng kiến này. Chẳng hạn, cần phải phân loại và dán nhãn để thực hiện các cơ chế quản lý các hoá chất. Vì vậy, GHS được coi như một sáng kiến làm cơ sở cho việc quản lý nhiều hoá chất khác. Mọi sáng kiến quốc tế đòi hỏi các nước phải chuẩn bị và thể hiện các quan điểm quốc gia ở các hội nghị quốc tế và đệ trình các báo cáo thực hiện cho ban thư ký. Nhiều sáng kiến yêu cầu phải kiểm soát vận chuyển hoá chất qua biên giới. Tất cả các sáng kiến này có thể được cụ thể hoá bằng một số biện pháp trong các chiến lược quốc gia. Chẳng hạn, việc loại bỏ dần các loại thuốc trừ sâu đặc biệt được coi là một nội dung quan trọng của thông lệ nông nghiệp bền vững (thông lệ này đang ngày càng trở nên quan trọng hơn nhằm thúc đẩy tiếp cận thị trường). Phát triển các cách tiếp cận chặt chẽ ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế tuỳ thuộc vào sự thông qua các tiếp cận củng cố hiệp lực ở mọi cấp. Để triển khai nhiều cách tiếp cận tổng hợp hơn nhằm thực hiện các sáng kiến quốc tế, một số biện pháp khả dĩ đã được đưa ra dưới đây: Quản lý thích hợp các hoá chất như một yếu tố cạnh tranh
Quản lý thích hợp các hoá chất là phải đảm bảo quản lý chúng trong suốt vòng đời bằng các biện pháp hạn chế tối đa các tác động tiêu cực. Trong số những vấn đề khác nhau, khách hàng yêu cầu những thông tin thích hợp về các mức độ nguy hại của các hoá chất nhằm đảm bảo được các quá trình sản xuất không gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến sức khoẻ con người hoặc môi trường, đồng thời phải đảm bảo vận chuyển an toàn các hoá chất. Các yêu cầu của khách hàng cùng với hàng loạt giá trị của hoá chất có thể có tác động đáng kể đến khả năng cạnh tranh của các nhà cung cấp. Ngành công nghiệp hoá chất ngày càng nhận thấy rằng, những yếu tố trên có ý nghĩa quan trọng đối với sự cạnh tranh liên tục của ngành. Điều này có liên quan đặc biệt tới các thị trường mới nổi, nơi mà việc kiểm soát bằng pháp lý còn mang tính truyền thống sẽ không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Xu thế quản lý thích hợp các hoá chất trong các chiến lược kinh tế và đầu tư của ngành công nghiệp là một công cụ hiệu quả để khuyến khích thực hiện tốt công tác quản lý ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, ngành công nghiệp phải tự tìm cách hoàn thiện cho phù hợp với các yêu cầu và tạo ra một đối tác có lợi cho chính phủ. Các hoạt động ở cấp quốc gia sẽ tác động tới sự gắn kết khu vực và thế giới Sự phân chia các tiếp cận quốc gia theo các văn bản chính thức của khu vực và quốc tế làm cho các Bộ đẩy mạnh tham gia hoạt động ở cấp khu vực và quốc tế, và không nhất thiết phải tham khảo ý kiến các bộ liên quan khác. Ví dụ: hoàn toàn không có sự tham gia của các Bộ kinh tế trong việc xây dựng các văn bản đa phương như Nghị định thư Do việc kiểm soát xuất/nhập khẩu là trách nhiệm của các bộ kinh tế, nên các bộ này có điều kiện thuận lợi để triển khai kiểm soát trong các hệ thống quốc gia, thay đổi cho phù hợp với các yêu cầu kiểm soát xuất/nhập khẩu của tất cả các văn bản quốc tế về hoá chất. Thiếu sự gắn kết quốc gia trong quản lý hoá chất đã được phản ánh trong các văn bản quốc tế. Ví dụ: muốn gia nhập tổ chức như Tổ chức thuế quan thế giới (WCO), thì các bộ trưởng kinh tế không nhất thiết phải quan tâm tới những khó khăn trong khi thực hiện các điều khoản kiểm soát xuất/nhập khẩu theo các thoả thuận đa phương về môi trường. Ngược lại, các ban thư ký quốc tế chịu trách nhiệm về các văn bản về môi trường đa phương phải tìm kiếm sự gắn kết hơn giữa họ với các đối tác quốc tế chú trọng nhiều tới kinh tế và xã hội (như là WCO và WB). Tận dụng mặt tích cực của sự hợp tác Rõ ràng là có rất nhiều hợp tác trong các thoả thuận đa phương về kiểm soát xuất/nhập khẩu. Ngoài ra, còn có thể có nhiều cơ chế báo cáo cải tiến hơn. Cách tiếp cận báo cáo chặt chẽ không chỉ cho phép tìm kiếm thông tin tốt hơn về các nhu cầu xây dựng năng lực cấp quốc tế, mà còn thúc đẩy sự liên kết và hợp tác chặt chẽ ở cấp quốc gia. Các nội dung khác trong Tuyên bố Vai trò của sự hỗ trợ quốc tế để xây dựng năng lực
Hỗ trợ việc xây dựng năng lực quốc tế đóng vai trò chủ yếu để hoàn thiện sự gắn kết cấp quốc gia. Nhìn chung, nhiệm vụ của các cơ quan quốc tế khá cụ thể nhưng họ thường không quan tâm đến xây dựng các thể chế quốc gia. Các trung tâm sản xuất sạch khuyến khích xây dựng tiếp cận chặt chẽ để quản lý thích hợp hoá chất - một bộ phận cấu thành của sản xuất sạch trong ngành công nghiệp sản xuất và sử dụng hoá chất. Sự hỗ trợ của UNIDO và UNEP đối với các trung tâm sản xuất sạch đã taọ cơ hội để hội nhập quản lý thích hợp hoá chất và phát triển cạnh tranh công nghiệp mạnh mẽ hơn. Hệ thống toàn cầu về phân loại và dán nhãn các hoá chất
Thực hiện hệ thống phân loại hài hoà trên phạm vi toàn cầu sẽ là thách thức đối với các nước đang phát triển, cũng như các nước phát triển. GHS là một xuất phát điểm thích hợp đối với cách tiếp cận tổng hợp quản lý hoá chất. Có hai yếu tố then chốt của cách tiếp cận tổng hợp: Ø Phân loại theo tính chất nguy hiểm Ø Truyền thông về sự nguy hiểm Thực hiện sáng kiến này sẽ tạo cơ hội để xây dựng chính sách quản lý thích hợp các hóa chất mang lại nhiều lợi ích. Ở Nam Phi đã triển khai một chiến lược thực hiện GHS, sử dụng quy trình cho nhiều người có vai trò. Chiến lược này do chính phủ Nam Phi cùng Viện đào tạo và nghiên cứu LHQ (UNTAR) cấp kinh phí. Ngành công nghiệp, những người lao động và các nhà điều phối có trách nhiệm đã thoả thuận thực hiện chiến lược dưới sự bảo trợ của Hội đồng phát triển kinh tế và lao động quốc gia Nam Phi. Thoả thuận này hiện đang được lồng ghép vào các thoả thuận ngành gồm: ngành công nghiệp hoá chất, chính phủ và người lao động để thực hiện chiến lược thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu. Xây dựng năng lực
Để chuẩn bị Hội nghị thượng đỉnh thế giới 2002 về Phát triển bền vững (WSSD), Hội đồng các hội hoá học quốc tế (ICCA) đã được giao nhiệm vụ soạn thảo các báo cáo điển hình về xây dựng năng lực. Nam Phi được thực hiện một trong các báo cáo này. Những người có vai trò chính (chính phủ, ngành công nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự) quan tâm tới xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về công nghiệp hoá học đã tham gia thảo luận để lấy ý kiến. Các yêu cầu và nghĩa vụ xây dựng năng lực cụ thể do những người có vai trò trong mỗi khu vực xác định, được tóm tắt dưới đây. Chính phủ
Ø Cần phải phối kết hợp năng lực quản lý các hoá chất trong chính phủ. Những chính sách và quy định pháp lý liên quan (như các yêu cầu và thực hiện dán nhãn của chương trình APELL thuộc UNEP) cần đươc phối hợp. Ø Phải xây dựng các cơ chế thích hợp để nâng cao nhận thức an toàn hoá chất bằng cách phổ biến thông tin về các phát tán công nghiệp, các giải pháp thay thế an toàn, dự báo và xử lý nhiễm độc hoá chất. Ø Năng lực thuế quan và thuế hàng hoá phải được phát triển để kiểm soát vận chuyển các hoá chất qua biên giới. Ø Năng lực trong các cơ quan của chính phủ cần phải được phát triển để đảm bảo thực hiện thành công chương trình APELL nhằm ứng phó với những tình trạng khẩn cấp. Ngành công nghiệp
Ø Trách nhiệm của ngành là đảm bảo thông tin về rủi ro tiềm tàng của các hoá chất để giúp người sử dụng triển khai các chiến lược quản lý thích hợp các rủi ro. Cần phải phổ biến các thông tin phù hợp và có ý nghĩa tới tất cả những người có vai trò. Ø Cần triển khai và thực hiện những nguyên tắc về cương vị quản lý sản phẩm, các hoạt động của tất cả các bên có liên quan tới sản xuất và sử dụng hoá chất. Phát triển và thực hiện các chương trình đào tạo phù hợp để đảm bảo tất cá các bên có liên quan hiểu rõ những nguyên tắc về quản lý sản phẩm. Ø Cần phải tăng cường và thực hiện các chương trình đào tạo để đảm bảo cho các công nhân được đào tạo bài bản, hiểu rõ về phân loại và dán nhãn các hoá chất, cũng như những thông tin trong các biểu dữ liệu vật liệu an toàn. Ø Cần phải tăng cường Sáng kiến về trách nhiệm của ngành công nghiệp để phổ biến thông tin và truyền thông về tính chất nguy hiểm của các hoá chất. Ø Những nguyên lý sản xuất sạch và xử lý hợp lý chất thải phải được khuyến khích trong ngành công nghiệp. Xã hội dân sự
Xã hội dân sự cần có năng lực để có thể tham gia hiệu quả vào quá trình quản lý các hoá chất và đáp ứng được các nghĩa vụ của mình. Vai trò đặc biệt của xã hội dân sự gồm: Ø thực hiện nghiên cứu độc lập và đánh giá những vấn đề môi trường liên quan; Ø hỗ trợ các công dân giải quyết những vấn đề nan giải ngày càng tăng do sử dụng hoá chất; Ø quảng cáo những vấn đề môi trường vì lợi ích của mọi công dân; Ø phố biến những thông tin của chính phủ và ngành công nghiệp cho quần chúng; Ø thông tin cho chính phủ và ngành công nghiệp về bất cứ vấn đề nào liên quan tới quần chúng; Nguồn: UNEP Industry and Environment, Sept. 2004 |
||
