Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Biện pháp xử lý nước ô nhiễm Asen

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : Tiếng Việt
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 22/Công nghệ môi trường
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Từ khoá : Biện pháp Xử lý Ô nhiễm Nước Asen
Nội dung:

Nước có hàm lượng asen cao đang đe doạ sức khỏe của 10 triệu người, chủ yếu sống ở Bănglađét và ở bang Bengal miền tây Ấn Độ. Nguyên nhân là do một số vi khuẩn thải asen từ trái đất vào trong nước ngầm. Việc bổ sung thêm khoáng chất tự nhiên vào nước bị ô nhiễm asen có thể là biện pháp nhanh và rẻ để loại bỏ hoá chất độc hại này.            
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Illinois, Hoa Kỳ cho rằng: việc thay đổi thành phần hoá học của nước có thể hạn chế các loại vi khuẩn khác nhau và làm ngừng quá trình thải asen. Các nhà nghiên cứu cũng đã phân tích 21 giếng nước ở miền trung Illinois nơi có các mức asen không giống nhau do hoạt động băng giá. Họ đã ngạc nhiên khi phát hiện thấy các mức asen thay đổi từ giếng này sang giếng khác. Thậm chí các mức asen trong các giếng nước ở ngay cạnh nhau cũng khác nhau nhiều, tới mức mà ở giếng nước này có các mức asen nguy hiểm trong khi giếng nước ngay cạnh lại không phát hiện thấy asen. Khi các mức asen thấp, thì ngược lại các mức khoáng sunfat ở các giếng lại cao. Điều này có thể xác định các giếng nước bị nhiễm asen nhanh và dễ dàng hơn.
 Bethke, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Illinois, cho biết: “không giống với việc phát hiện asen thường cần tới phân tích trong phòng thí nghiệm, việc thử asen  nhờ sunfat thật đơn giản và dễ thực hiện”.
Hơn nữa, khi các mức sunfat cao, vi khuẩn tiêu thụ sunfat tạo ra sản phẩm phụ là sunfit. Sunfit làm cho bất kỳ lượng asen nào, dù chỉ là một lượng nhỏ trong dung môi cũng có thể tạo thành chất rắn. Điều này có nghĩa là việc bổ sung sunfat vào các giếng nước ô nhiễm có thể giúp làm sạch asen bằng cách làm kết tủa chất độc này để tách ra khỏi nước.
Ông Bethke còn cho biết: nếu chúng ta biết chính xác các vi khuẩn này kiểm soát được các mức asen và nếu tăng thêm lượng sunfat có thể kích thích các vi khuẩn, như vậy đây là biện pháp xử lý với chi phí rẻ, song tất nhiên các yêu cầu này cần phải được chứng minh ở hiện trường. 
Muối sunfat như thạch cao, canxi sunfat, hoà tan dễ dàng trong nước, có sẵn và rẻ, giá chưa đến 1USD/10kg. Giá này sẽ tạo điều kiện cho các nhà chức trách ở những nước bị ảnh hưởng asen ra quyết định dễ dàng .
Phần lớn các nguồn nước ngầm ở Bănglađét  nghèo sunfat, tuy nhiên các nguồn nước ngầm nghèo sunfat thì lại có ít asen, song vấn đề đáng ngờ là asen ở đây lại trở nên phổ biến trong khi có ít sunfat.       
Nghiên cứu mới đây đã đề xuất sắp xếp toàn bộ hệ gen vi khuẩn để huy động asen, đây là biện pháp mới để khử asen trong nước.
Ông Bethke cho biết: Nghiên cứu về bộ gen vi khuẩn dù chi phí tốn kém, song thực chất lại có giá trị khoa học to lớn. Hệ gen của vi khuẩn có thể làm thay đổi đặc tính của asen trong các tầng nước ngầm khác nhau, song có lẽ trong các tầng nước ngầm có tính axít, khác biệt với ở tầng nước ngầm  khi nghiên cứu là nước kiềm, do vậy, cần có các phương pháp tinh vi như sắp xếp lại toàn bộ hệ gen vi khuẩn để nghiên cứu vấn đề này.      
Sử dụng các kỹ thuật chi phí thấp để nghiên cứu các chất hoá học trong nước có thể chứng minh ý nghĩa thực tiễn trước mắt hơn là các kỹ thuật gen, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Việc bổ sung sunfat vào nước uống không gây ra mối nguy hiểm nào tới sức khoẻ. Các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới về nước uống cho thấy các mức sunfat an toàn trong nước là 400mg/lít, nhưng hầu hết nồng độ sunfat trong nghiên cứu ở Illinois là chưa đến 50mg/l.
Nếu như biện pháp xử lý asen bằng phương pháp này có hiệu quả, thì có thể việc chuẩn bị dung môi canxi sunfat và bơm nó xuống tầng nước ngầm là vấn đề phức tạp. Trong trường hợp này sẽ không cần tới công nghệ tiên tiến hoặc một thiết bị đắt tiền.
Ưu điểm nữa của phương pháp này là do asen sẽ được cố định trong tầng nước ngầm, nên sẽ không phải xử lý chất thải có liên quan tới asen.   
Nguồn: Sci.Dev, 29/10/2004
 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia