Ngành công nghiệp hoá chất và hợp tác quốc tế để quản lý những rủi ro về hoá chất |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích tạp chí |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số /Hóa chất và môi trường |
| Đề mục | : | 87.05 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Công nghiệp ; Hoá chất ; Hợp tác quốc tế ; Quản lý ; Rủi ro |
| Nội dung: | ||
|
Các hoá chất do con người tạo ra hầu hết được phát hiện trong mỗi sản phẩm chúng ta đang sử dụng hoặc tiêu thụ. Năm 1930, sản lượng hoá chất toàn cầu là khoảng 1 triệu tấn; ngày nay, sản lượng này là khoảng 400 triệu tấn. Giá trị sản lượng hoá chất toàn cầu năm 2003 ước tính đạt gần 2000 tỷ USD. Hai mươi lăm nước thành viên Liên minh châu Âu (EU), là khu vực sản xuất hoá chất lớn nhất thế giới (đạt 34% tổng doanh thu bán hàng năm 2003). Hai phần ba lượng hoá chất toàn cầu được sản xuất ở châu Âu và Hoa Kỳ. EU dẫn đầu về xuất và nhập khẩu hoá chất, chiếm một nửa tổng sản lượng thương mại toàn cầu. Các khu vực thương mại hoá chất lớn nhất là EU, châu Á và Bắc Mỹ. Trong giai đoạn 1998 - 2003, sản xuất hoá chất ở EU tăng nhanh hơn so với Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản (tương ứng là 2,7%/ năm so với 0,7%/năm và 1,3%/ năm). Cũng trong giai đoạn này, có những nước mới xuất hiện như Ấn Độ và Trung Quốc, tình trạng sản xuất hoá chất cũng tăng rất mạnh. Trong ngành công nghiệp hoá chất diễn ra nhiều hoạt động sản xuất và xử lý khác nhau. Rất nhiều sản phẩm (hơn 1/3 số sản phẩm) được tiếp tục xử lý trong ngành công nghiệp này. Các sản phẩm tiêu dùng sẽ không được thị trường chấp nhận nếu như chúng chưa được xử lý. Ngành công nghiệp hoá chất thực sự đã cung ứng cho mọi ngành kinh tế (kể cả bản thân ngành hoá học), là cơ sở đổi mới vững chắc cho mọi ngành công nghiệp, từ các vật liệu mới cho tới các hệ thống năng lượng, điện tử và thiết bị hiện đại đến các sản phẩm khoa học đời sống cần thiết để sản xuất lương thực và thuốc chữa bệnh. Nghiên cứu và phát triển là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngành công nghiệp này. Một phần doanh thu của ngành hoá chất ở EU (không kể dược phẩm), năm 2003 đã dành cho nghiên cứu và phát triển là 1,9% thấp hơn so với Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản. Hội đồng hoá học Hoa Kỳ cho biết: Ngành công nghiệp hoá chất Hoa Kỳ hàng năm đã dành 31 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển và sử dụng tới 80 000 nhà khoa học, kỹ sư và công nhân. Cứ 7 bằng sáng chế được công bố ở Hoa Kỳ, thì có một bằng của ngành hoá học. Ngành công nghiệp hoá chất có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề việc làm, phát triển thương mại và kinh tế trên toàn thế giới. Cũng như các ngành công nghiệp khác, công nghiệp hoá chất đã thành công trong việc giảm các phát tán ô nhiễm và đã có rất nhiều đóng góp cải tiến nhằm bảo vệ sức khoẻ và môi trường. Chúng ta thường cho rằng ngành công nghiệp hoá chất do một vài tổ chức đa quốc gia chi phối. Song, thật ngạc nhiên là nhiều công ty hoá chất ở các nước công nghiệp cũng như các nước đang phát triển lại là những xí nghiệp vừa và nhỏ (SME). Trong ngành công nghiệp hoá chất ở EU, SME chiếm 45% giá trị gia tăng và 46% tổng số việc làm. Chỉ có 2% số công ty hoá chất EU sử dụng hơn 99 công nhân, thế nhưng các công ty này đã tạo ra 55% tổng giá trị gia tăng. An toàn hoá chất Tổ chức Quỹ bảo vệ sinh vật hoang dã thế giới (WWF) gần đây đã nhận định rằng, cùng với nóng lên toàn cầu thì ô nhiễm hoá chất là một trong hai mối đe doạ môi trường lớn đối với hành tinh. WWF đặc biệt quan tâm tới các hoá chất công nghiệp “tích luỹ và tồn lưu lâu dài" và các chất phá huỷ hoóc môn (các chất phá huỷ nội tiết). Chúng ta còn nhiều việc phải làm để hiểu rõ và kiểm soát các hoá chất. Bệnh ung thư, khuyết tật ở trẻ sơ sinh, rối loạn thần kinh và các bệnh khác đều liên quan tới tiếp xúc với một số hoá chất độc hại. Nhiễm độc hoá chất là một trong những nguyên nhân thường xuyên nhất gây tử vong cho các bệnh nhân điều trị ở các bệnh viện của một số nước đang phát triển. Mặc dù có những cải thiện đáng kể về an toàn ở các nhà máy và kho hàng (không hẳn tất cả những nơi này đều thuộc ngành công nghiệp hoá học) cũng như trong lúc vận chuyển, song những vụ tai nạn hoá chất vẫn tiếp tục xảy ra. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, khối lượng hoá chất và các sản phẩm bằng hoá chất tăng đột ngột và con người lại bắt đầu lo lắng nhiều về những tác hại tiềm tàng của chúng. Các loại thuốc trừ sâu đặc biệt được chú ý tới. Hầu hết các loại thuốc trừ sâu là những chất tồn lưu trong môi trường, có xu hướng tích luỹ sinh học và gây độc hơn cho động, thực vật so với các hoá chất khác, cần phải loại bỏ chúng. Nhất là từ những năm 1960, công chúng ủng hộ ngày càng tăng việc xác định mức nguy hại và rủi ro và quản lý các hoá chất một cách hợp lý. Từ lâu, những vấn đề nan giải về sức khỏe và môi trường không thể giải quyết được một cách triệt để nếu như không hiểu rõ tính chất của các hoá chất đã sử dụng. Ngày nay, có thể sử dụng rất nhiều thông tin về hoá chất, trong đó có nhiều thông tin trực tuyến. Tuy nhiên, có khoảng hàng chục ngàn hoá chất hiện có mặt trên thị trường chưa có những dữ liệu đầy đủ để đánh giá sơ bộ các tác động tiềm tàng của chúng. Nhiều hoá chất trong số này đã được bán trên thị trường trước khi các hệ thống khai báo hoá chất hiện đại được thiết lập và đây là các hoá chất đang “tồn tại”. Các nước trên thế giới đang dành nỗ lực ưu tiên để điều tra các loại hoá chất này, vì chúng đang được sản xuất với khối lượng lớn nhất . Hợp tác quốc tế Để đáp ứng đòi hỏi của công chúng về quyền và trách nhiệm được biết sự thật về các hóa chất, nhiều bộ luật, các hiệp định đã được các bộ, các cơ quan và các tổ chức phi chính phủ (NGO) cũng như các tổ chức khác xây dựng ở cấp quốc gia và quốc tế. Hai loại hoá chất được sử dụng từ những năm 1930, là mục tiêu chú ý của những nỗ lực hợp tác quốc tế ngay từ đầu, đó là: biphenyl đa clo hoá (PCB) và cloflocacbon (CFC). Hàng triệu tấn hoá chất mỗi loại này đã được sản xuất. Các loại hoá chất này rất nguy hại, nên việc sản xuất các hoá chất bị hạn chế. Tuy nhiên, chúng vẫn còn xuất hiện trong môi trường. Hành động phối hợp quốc tế đầu tiên để kiểm soát những rủi ro PCP là Quyết định năm 1973 của Hội đồng Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED) nhằm kiểm soát các PCB. Sau đó, Chỉ thị của Uỷ ban kinh tế châu Âu (EEC) năm 1976 cấm sử dụng các PCB trừ sử dụng trong thiết bị kín. Năm 1979, Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã cấm sản xuất các sản phẩm này. Nghị định thư Montreal, có hiệu lực vào năm 1989, đã góp phần cắt giảm sản xuất, tiêu thụ và phát thải các chất gây suy giảm tầng ôzôn, kể cả các CFC. Do các bộ luật về bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường đã được thực hiện chặt chẽ hơn ở các nước công nghiệp, nên các nước này đã tăng xuất khẩu các chất nguy hiểm của họ sang các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. Công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hại và tiêu huỷ chúng, phê chuẩn năm 1989 nhằm nỗ lực kiểm soát tình trạng xuất khẩu này. Trong thời gian chờ phê chuẩn, đã có khoảng 400 triệu tấn chất thải nguy hại đã được sản xuất, trong đó khoảng 75% lượng chất thải của các nước công nghiệp. Để tăng hiệu lực của Công ước Basel,vài năm sau đó đã ban hành "lệnh cấm của Basel". Một thập kỷ sau, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) ở Rio de Janeiro 1992, các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước và các nhóm quan trọng đã chú ý rất nhiều tới hợp tác kiểm soát các hoá chất. Mối quan tâm bắt đầu tập trung vào cách tiếp cận đồng thuận quốc tế nhằm thử nghiệm mức độ nguy hiểm của các hoá chất và đánh giá những rủi ro của chúng. Không lâu, sau vụ hoả hoạn năm 1986 ở nhà kho Sandoz thuộc Basel, hợp tác quốc tế còn được quan tâm nhiều hơn nhằm ngăn chặn, chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với những sự cố tai nạn hoá chất ở các nước công nghiệp cũng như các nước đang phát triển. Chương trình APELL của UNEP, Chương trình "về sự cố hoá chất của OECD và những hoạt động liên quan trong ngành công nghiệp hoá học", Chính phủ các nước và các tổ chức khác đã ra đời từ cuối những năm 1980. Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển (UNCED) và các Hội nghị tiếp sau Tuyên bố Rio và Chương trình nghị sự 21 (Chương trình hành động toàn diện vào thế kỷ 21 của UNCED) đã được phê chuẩn năm 1992, sau đó đã hỗ trợ các hoạt động quốc tế và kêu gọi đẩy mạnh các hoạt động này. Những thành tựu của các tổ chức quốc tế đã đạt được trong lĩnh vực quản lý rủi ro của các hoá chất từ năm 1992 đã đáp ứng được nội dung của hai hiệp định này, nhất là Chương 19, Chương trình nghị sự 21, "Quản lý các hoá chất độc hại thân thiện môi trường bao gồm cả ngăn ngừa buôn bán quốc tế bất hợp pháp các sản phẩm độc hại và nguy hiểm". Trong các khuyến nghị của Chương trình nghị sự 21, Chương 19, yêu cầu đến năm 2000 phải phân loại tính chất nguy hiểm và xây dựng hệ thống dán nhãn phù hợp để buôn bán và sử dụng các hoá chất an toàn hơn. Dưới sự bảo trợ của Chương trình thuộc tổ chức quốc tế về Quản lý phù hợp các hoá chất (IOMC), các cá nhân, Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức khác đã cùng nhau phối hợp và quản lý phù hợp hệ thống toàn cầu về phân loại và dán nhãn các hoá chất nguy hiểm (GHS). Theo kế hoạch thực hiện của Hội nghị Johanesburg, các nước phải thực hiện GHS càng sớm càng tốt, dự kiến hệ thống này sẽ có hiệu lực vào năm 2008. Những kế hoạch thực hiện trên phạm vi thế giới bao gồm các hoạt động nhằm giúp các nước đang phát triển đang thiếu cơ sở hạ tầng để thực hiện GHS. Ba công ước quốc tế đã được xây dựng trong hai thập kỷ qua, đã đưa ra một khung quốc tế về quản lý các hoá chất nguy hiểm thân thiện với môi trường trong toàn bộ vòng đời của chúng: Công ước Rotterdam về thoả thuận thông báo trước (PIC) (phê chuẩn năm 1998, có hiệu lực năm 2004), Công ước Stockhom về các chất hữu cơ gây ô nhiễm lâu dài (POP) (phê chuẩn năm 2001, có hiệu lực năm 2004) và Công ước Basel năm 1989. Ở cấp khu vực, năm 2004, kỷ niệm lần thứ 25 sự ra đời của Công ước Geneva về ô nhiễm không khí xuyên biên giới của Hội đồng kinh tế châu Âu LHQ (UNECE). Công ước Aahus mới đây của UNECE về: tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận công bằng những vấn đề môi trường (phê chuẩn năm 1998, có hiệu lực năm 2001), việc xây dựng các mối quan hệ giữa quyền con người và "quyền bảo vệ môi trường". Nguồn: UNEP Industry and Environment, N02-3, Apr-Sept.2004 |
||
