Hiệu quả của công tác truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích bản tin |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | Tiếng Việt |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số 15/Bảo vệ môi trường |
| Đề mục | : | 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên |
| Từ khoá | : | Môi trường ; Nước sạch ; Vệ sinh môi trường ; Truyền thông ; Nông thôn |
| Nội dung: | ||
|
Chiến lược quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS-VSMTNT) đến năm 2020 cho thấy, trong những năm qua, nhờ thực hiện tốt công tác truyền thông, nhận thức của người dân nông thôn được nâng cao, tự nguyện tham gia đóng góp kinh phí xây dựng các công trình NS-VSMTNT. Sự phát triển của ngành chăn nuôi huyện Ðan Phượng (Hà Tây) đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, song cũng nảy sinh tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi. Vì vậy, việc xử lý chất thải chăn nuôi là vấn đề rất cấp thiết để ngành chăn nuôi của huyện phát triển bền vững và bảo đảm sức khỏe cho người dân nông thôn. Trước thực trạng đó, một số hộ chăn nuôi lớn tại xã Hồng Hà đã chủ động tổ chức tham quan, tìm hiểu kinh nghiệm xây hầm biogas tại huyện Ứng Hòa. Sau đó, được UBND xã hỗ trợ vật tư, một số hộ dân đã mạnh dạn xây hầm biogas. Tuy số hầm biogas được xây chưa nhiều, nhưng đã phát huy hiệu quả, khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, tận dụng nguồn nhiên liệu phục vụ cuộc sống. Năm 1998, UBND huyện Ðan Phượng triển khai dự án xây dựng mô hình điểm vệ sinh chăn nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas. Sau 5 năm (1999-2003) triển khai, huyện xây được 3.650 hầm biogas; trong đó có 468 hầm do dân tự bỏ vốn xây dựng. Ðến nay, tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra trên địa bàn huyện đã được khắc phục. Chủ tịch Hội Nông dân huyện Ðan Phượng cho biết: Ðể nắm bắt được nhu cầu và khả năng đầu tư cũng như những khó khăn, thuận lợi của người dân khi tham gia xây hầm biogas, Hội Nông dân huyện phối hợp Trung tâm NS-VSMTNT Trung ương tổ chức điều tra, khảo sát thực tế để xác định nhu cầu và nguyện vọng của dân. Đồng thời tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường với sức khỏe con người; giới thiệu các công nghệ xây hầm biogas để người dân lựa chọn; tuyên truyền trên đài truyền thanh các xã; tổ chức nói chuyện về vệ sinh môi trường, hưởng ứng Tuần quốc gia NS-VSMTNT. Lực lượng tham gia công tác truyền thông chủ yếu là cán bộ các ban ngành như Hội nông dân, Hội phụ nữ, trưởng xóm, trưởng thôn, bí thư chi bộ,v.v... Công tác truyền thông có ý nghĩa quan trọng để thực hiện dự án. Thực tế cho thấy, đối với nông dân, cần chú trọng áp dụng phương tiện truyền thông trực tiếp với cách diễn đạt dễ hiểu là có hiệu quả nhất. Tài liệu tuyên truyền phải đơn giản, dễ hiểu, xây dựng mô hình điểm để tuyên truyền bằng trực quan và thực tế. Giám đốc Trung tâm NS-VSMTNT tỉnh Thừa Thiên-Huế cho rằng: Truyền thông về NS-VSMTNT qua hệ thống loa truyền thanh cấp xã, phường là có hiệu quả nhất. Do thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tỉnh đã triển khai có hiệu quả mô hình hố rác di động cho vùng nông thôn, nhằm giúp người dân nông thôn giữ gìn vệ sinh, giảm đến mức thấp nhất các bệnh có liên quan đến điều kiện vệ sinh. Công tác truyền thông quyết định 50% thành công của dự án. Thời điểm triển khai công tác truyền thông nên vào thời kỳ nhàn rỗi, và tổ chức các cuộc họp vào buổi tối vì như thế người dân có thời gian để tiếp thu. Các áp-phích, tờ rơi đưa cho người dân phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương. Xã Long Cốc là xã đặc biệt khó khăn của huyện Thanh Sơn (Phú Thọ), có diện tích tự nhiên 2.478 ha, dân số 2.800 khẩu, chủ yếu là người dân tộc Mường. Năm 2002, xã được đầu tư xây dựng công trình cấp nước hệ tự chảy với 105 trụ vòi ở thôn Nhôi Cạn và 68 giếng đào rải rác ở các khu dân cư khác, bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho 65% số dân trong xã. Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh môi trường vẫn chưa được giải quyết. Có 70% số hộ dân trong xã không có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn, 80% chuồng trại chăn nuôi không bảo đảm vệ sinh. Nhờ sự giúp đỡ của UNICEF, chỉ trong 3 tháng, xã đã có 57 nhà tiêu sinh thái, 32 chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh. Do đó, tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và chăn nuôi đã được giải quyết. Trung tâm NS-VSMTNT Phú Thọ cho biết: Truyền thông đóng vai trò quyết định sự thành công của các dự án. Vì vậy, việc đầu tiên khi triển khai các dự án về NS-VSMTNT là phải tiến hành công tác truyền thông. Kế hoạch và nội dung truyền thông được xây dựng trên cơ sở những kết quả khảo sát, đánh giá về các vấn đề: Nhóm dân tộc, trình độ và nhận thức của nhân dân, cơ sở vật chất và phương tiện truyền thông tại địa phương, đối tượng truyền thông. Trung tâm NS-VSMTNT (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đánh giá: Nhờ việc đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, cho nên nhận thức của người dân về NS-VSMTNT được nâng cao. Những tập quán sinh hoạt lạc hậu được đẩy lùi, nếp sống của người dân ngày càng văn minh. Nhiều nơi mặc dù điều kiện sống còn nhiều khó khăn, nhưng người dân đã tích cực đóng góp kinh phí xây dựng và cải tạo các công trình NS-VSMTNT. Từ năm 1999 đến năm 2003, tổng kinh phí đầu tư cho cấp nước và vệ sinh là 4.760 tỷ đồng, trong đó kinh phí do dân đóng góp là 2.089 tỷ đồng (chiếm 45%). Nhờ đó, số dân nông thôn được cấp nước sạch tăng từ 32% (1999) lên 55% (2003), số hộ được sử dụng các công trình vệ sinh tăng từ 20% (1999) lên 41% (2003). Tuy nhiên, công tác truyền thông về NS-VSMTNT trong những năm qua còn gặp nhiều khó khăn như: Sự chỉ đạo, lãnh đạo và quan tâm của các cấp, các ngành chưa đúng mức; thiếu kinh phí phục vụ công tác truyền thông; thiếu cán bộ truyền thông, nhất là cán bộ có năng lực; kỹ năng truyền thông, phương pháp chuyển tải thông tin còn hạn chế; công tác giám sát, đánh giá hiệu quả truyền thông chưa được chú ý, coi trọng; thiếu sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, sự tham gia của cộng đồng, đối tượng được hưởng lợi; phương pháp chuyển tải thông tin, nội dung truyền thông chưa phù hợp với phong tục, tập quán của người dân, nhất là với đồng bào các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa. Nhận thức và chỉ rõ những khó khăn, hạn chế, chắc chắn công tác truyền thông về NS-VSMTNT sẽ nhận được sự quan tâm, phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, các cấp chính quyền. Nguồn: Nhân dân, 13/7/2004 |
||
