Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2004 » Số 14 » Môi trường toàn cầu » Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam khắc phục nhiều vấn đề môi trường

Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam khắc phục nhiều vấn đề môi trường

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : Tiếng Việt
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 14/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Từ khoá : Môi trường Ô nhiễm Xử lý Việt Nam
Nội dung:

Ngày 5/7/2004 tại Hà Nội đã diễn ra cuộc đối thoại cấp cao về môi trường giữa Việt Nam và Nhật Bản với chủ đề: khắc phục ô nhiễm và khắc phục ảnh hưởng của các khu công nghiệp, phục hồi rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và xây dựng các dự án phát triển sạch,v.v...

Cuộc hội thảo lần này nhằm mở ra bước hợp tác toàn diện hơn, chính thức hơn và nâng cao hiệu quả của các dự án hỗ trợ từ phía Nhật Bản.Bước đầu, phía Nhật Bản sẽ tìm hiểu chính sách quản lý cũng như hiện trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta, trao đổi kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc khắc phục các khó khăn tương tự và tìm ra giải pháp cho Việt Nam. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, trong 10 năm qua, tuy GDP của Việt Nam tăng 10%, nhưng mức ô nhiễm lại tăng từ 4 -5 lần . Số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết có gần 50% số cơ sở sản xuất kinh doanh có công nghệ lạc hậu từ những năm 50-60, và đang thải ra lượng chất ô nhiễm khổng lồ. Hầu hết hệ thống tiêu thoát nước ở các đô thị đều rất kém. Chỉ trong vòng 30 năm qua, diện tích rừng ngập mặn ở nước ta đã giảm 2/3, đồng thời đa dạng sinh học biển đang bị suy giảm. Việt Nam cũng đang đối mặt với sự xung đột giữa lợi ích kinh tế trước mắt và lợi ích môi trường về lâu dài (như việc chấp thuận xây một số con đường đi qua các Khu bảo tồn Thiên nhiên để giảm bớt kinh phí khi đi vòng).

Đến nay, nhiều chính sách quản lý môi trường và cả các biện pháp kinh tế (như phí bảo vệ môi trường, quỹ bảo vệ môi trường,v.v...) đã bước đầu được áp dụng, song hiệu quả còn thấp. Các chuyên gia hy vọng với vị trí là một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên thế giới, Nhật Bản có thể cung cấp cho Việt Nam nhiều bài học và kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Tại cuộc đối thoại về chính sách môi trường giữa đoàn cấp cao Nhật Bản và Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ Nhật Bản muốn dành 20% tỉ lệ đầu tư ODA cho các dự án môi trường ở Việt Nam. Trước mắt tập trung xử lý ô nhiễm tại các khu công nghiệp, các lưu vực sông, đặc biệt là lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn và các làng nghề. Phía Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn trong thời gian tới Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam hoàn thiện chính sách và chuyển giao công nghệ nhằm xây dựng ngành công nghiệp môi trường Việt Nam.

Hiện nay, thực trạng suy thoái đất là xu thế phổ biến trên toàn lãnh thổ Việt Nam; môi trường biển và ven biển đang bị ô nhiễm, suy thoái. Diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam giảm hơn một nửa trong vòng 20 năm qua. Chất lượng nước ở vùng hạ lưu phần lớn bị ô nhiễm, nước ngầm có dấu hiệu ô nhiễm ở nhiều nơi và có nguy cơ cạn kiệt ở các khu công nghiệp và đô thị. Chất lượng không khí tại các khu công nghiệp và đô thị trở nên cấp bách vì ô nhiễm bụi, khí thải, tiếng ồn...; vùng nông thôn miền núi cũng ô nhiễm và suy thoái môi trường vì cách sống lạc hậu, thiếu vệ sinh, vì chất thải làng nghề, tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy...

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xác định và đang tập trung giải quyết 4 khâu trọng yếu trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT): hoàn thiện thể chế (tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, tạo môi trường pháp lý cho công tác BVMT, xây dựng bộ các tiêu chuẩn môi trường phù hợp với từng giai đoạn phát triển, áp dụng các công cụ kinh tế như thu phí nước thải, tăng cường kiểm soát và phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp,v.v...); nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường được Việt Nam dành nhiều ưu tiên trong thời gian tới, nhằm tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ nhằm xây dựng hành vi và lối sống thân thiện với môi trường.

Nguồn: VnExpress, 5/7/2004

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia