Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2004 » Số 11 » Hóa chất và môi trường » Các hóa chất làm chậm cháy được phát hiện ở bụi trong nhà

Các hóa chất làm chậm cháy được phát hiện ở bụi trong nhà

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 11/Hóa chất và môi trường
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Từ khoá : Khoa học Hóa chất Polybromit Diphenyl Ether (PBDEs)
Tóm tắt tiếng Việt
Các nhà khoa học Hoa Kỳ đã phát hiện thấy hóa chất được sử dụng làm chất chậm cháy ở mức cao có ở bụi trong nhà. Các hóa chất như Polybromit Diphenyl Ether (PBDEs) gây tổn thương về thần kinh cho người và động vật.
Nội dung:

Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện thấy hóa chất được sử dụng làm chất chậm cháy có ở bụi trong nhà mà họ lấy mẫu đạt mức cao. Tác hại của các hóa chất như Polybromit Diphenyl Ether (PBDEs) đến sức khỏe con người chưa được biết đến nhiều, song các nhà khoa học cho rằng chúng gây tổn thương về thần kinh cho các động vật thí nghiệm.

Các PBDEs được bổ sung vào chất dẻo, đồ điện tử, sản phẩm dệt và vật liệu xây dựng là những hợp chất làm chậm cháy phổ biến.

Trong những thử nghiệm đầu tiên về PBDEs có ở bụi trong nhà, Nhóm nghiên cứu môi trường (EWG) đã phát hiện thấy lượng hóa chất trung bình trong 9 gia đình cao hơn 4.600 phần triệu (ppb) PBDEs - cao hơn mức trung bình bất kỳ nghiên cứu nào trước đây về bụi của Hoa Kỳ.

Mẫu thứ mười được thu thập được trong một nhà có các sản phẩm chứa chất làm chậm cháy vừa được hủy bỏ, đo được hơn 41.000 ppb PBDEs – cao hơn 2 lần mức bụi trong các nghiên cứu khác trên thế giới.

Các nồng độ PBDE đo được ở bụi trong nhà do tổ chức nghiên cứu tại Washington, DC cao hơn nhiều so với các mức bụi đã thông báo trước đây có trong người, động vật hay môi trường. Tổ chức này còn cho biết: bụi gây rủi ro trực tiếp qua tiếp xúc với người, nhất là trẻ em liên tục ăn hay hít phải bụi.

Các thử nghiệm của EWG chỉ ra rằng các sản phẩm tiêu dùng như máy tính, ti vi, đồ đạc, thảm và rèm cửa, không phải là những phát thải công nghiệp mà là các nguồn có khả năng làm cho PBDEs tích luỹ nhanh ở người, động vật và môi trường.

Theo nhóm nghiên cứu, thì những tài liệu thu được không cho biết về cách giải quyết loại bỏ dần 2 loại PBDEs trên toàn liên bang mà cũng không cho biết về các quy định đã được ban hành hay đang được xem xét trong 7 bang.

Theo thỏa thuận tự nguyện do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và các nhà sản xuất hóa chất đã đưa ra vào cuối tháng 10/2003, thì hai trong số ba loại PBDEs chính đang được sử dụng là Penta và Octa sẽ không có mặt tại thị trường Hoa Kỳ vào cuối năm 2004.

Penta chủ yếu được dùng làm bọt xốp cho đồ dùng còn Octa được dùng cho chất dẻo ở các máy tính cá nhân và các thiết bị nhỏ.

Thế nhưng, không có thỏa thuận nào về việc đưa ra lệnh cấm sử dụng hợp chất thứ ba là Deca. Deca là một dạng PBDEs được sử dụng nhiều nhất – nó được dùng cho trong ti vi, dàn âm thanh nổi, máy vi tính, thuốc nhuộm tóc, lò nướng bánh, vải vóc và các chất liệu bọc đồ đạc.

Chỉ riêng năm 2001, ngành công nghiệp Bắc Mỹ đã sử dụng 49 triệu pao Deca (1 pao = 0,454kg), chiếm gần một nửa thị trường thế giới.

Ngành công nghiệp hóa chất lập luận rằng: các phân tử Deca quá lớn để cơ thể con người có thể hấp thụ được và một đánh giá rủi ro mới đây của Cộng đồng châu Âu cho thấy một phần nhỏ của mối nguy hiểm tới sức khỏe cộng đồng do hợp chất này gây ra.

Tuy nhiên, các nhà môi trường và những người bảo vệ sức khỏe cộng đồng nhấn mạnh tới sự mâu thuẫn với những quan điểm này. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, dù cơ thể con người khó hấp thụ các hóa chất PBDEs khác, song Deca phân hủy dưới ánh sáng mặt trời và trong suốt các quá trình trao đổi chất biến thành các thành phần hóa học của Penta. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng Deca rò rỉ vào môi trường do nó không tác dụng hoá học với các sản phẩm mà nó được bổ sung.

Một nghiên cứu mới đây về sữa phụ nữ ở Hoa Kỳ đã phát hiện thấy Deca có ở 16 trong số 20 phụ nữ được thử nghiệm. Một nghiên cứu của Đại học Texas cũng phát hiện được Deca ở mức tối đa 40 lần cao hơn mức đánh giá của ngành công nghiệp đối với phụ nữ lao động kiếm sống bằng nghề tháo lắp máy vi tính có chứa Deca.

Trong một nửa số nhà ở do EWG lấy mẫu, thì PBDE hiện là loại có chứa nhiều trong Deca.

Nhà phân tích, Renee Sharp thuộc EWG, tác giả chính của một nghiên cứu mới đây cho rằng: “không thể thờ ơ được nữa với Deca, vì nó đe dọa tới sức khỏe và môi trường. EPA không thể để mặc các bang tự đưa ra quy định về Deca trên cơ sở thiếu đồng bộ, cần phải hành động nhanh chóng.

California là bang đầu tiên hành động bằng việc thông qua lệnh cấm Penta và Octa bắt đầu từ năm 2008. Sáu bang khác đã thông qua hoặc đang xem xét các lệnh cấm hay quy định về PBDEs. Trong số đó, New York, Maine và Washington đã giải quyết được vấn đề về Deca.

Liên minh châu Âu (EU) đã cấm sử dụng tất cả các loại PBDEs trong đồ điện tiêu dùng bắt đầu vào giữa năm 2006. Lệnh cấm của EU đáp ứng một phần nghiên cứu của Thụy Điển, đã phát hiện thấy các mức hóa chất trong sữa của phụ nữ ở Thụy Điển tăng 40 lần từ năm 1972 đến 1997.

Vào tháng 9/2003, các thử nghiệm trên toàn quốc của EWG đã phát hiện ra các mức PBDEs kỷ lục có trong sữa phụ nữ ở Hoa Kỳ.

Các hóa chất được sản xuất trong những năm 1960 là những hoá chất tồn lưu và tích luỹ rất lâu trong cơ thể, với lượng nhiều như thủy ngân, chì và PCBs.

Khi thông báo về việc tự nguyện loại bỏ dần sử dụng Pena và Octa vào năm 2003, EPA cho rằng, còn chưa kết luận được là PBDEs gây nguy hiểm lớn tới sức khỏe con người hay môi trường và chưa tin rằng cần phải loại bỏ hoặc thay thế các sản phẩm có thể chứa các hóa chất này.

Các nhà môi trường cho rằng có các hóa chất thay thế an toàn cho Deca và các PBDEs khác đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn về cháy.

Ericsson, nhà sản xuất điện thoại pin và đồ điện tử trên toàn cầu đã cấm sử dụng Deca và các PBDEs khác trong các sản phẩm , các ứng dụng của họ và cho biết việc thay thế này tiêu tốn nhiều chi phí.

Nguồn: ENS, 5/2004

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia