Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2004 » Số 11 » Chính sách môi trường » Môi trường biển: Thiếu một chiến lược tổng thể

Môi trường biển: Thiếu một chiến lược tổng thể

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 11/Chính sách môi trường
Đề mục : 87.19 Ô nhiễm nước lục địa, biển và đại dương. Bảo vệ nước lục địa, biển và đại dương
Từ khoá : Môi trường Biển Chiến lược
Tóm tắt tiếng Việt
Có nhiều nguyên nhân như tràn dầu, rác thải... làm ô nhiễm môi trường biển Việt Nam, gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái biển. Mặc dù có rất nhiều chương trình về biển nhưng rất tiếc đến nay, chúng ta vẫn chưa có kế hoạch tổng thể về phát triển và bảo vệ biển. Viện Hải dương học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu soạn thảo chiến lược này.
Nội dung:

Về những thách thức trong công tác bảo vệ môi trường biển của Việt Nam,Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, PGS - TS Nguyễn Tác An cho biết:

Hiện nay, nguồn lợi biển đang phải chịu hai thách thức to lớn. Đối với toàn cầu, đó là thách thức do sự thay đổi của khí hậu. Sự thay đổi của khí hậu có tác động đến nguồn lợi tài nguyên biển. Đối với Việt Nam là nước đang phát triển, có những khó khăn về mặt kinh tế, về chính sách thì thách thức ấy lại càng nhân lên gấp bội. Tiềm lực để giải quyết thiên tai, tiềm lực để đầu tư bảo vệ môi trường biển, tiềm lực để nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ biển ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế vì các khó khăn không phải là ít. Có thể nói môi trường biển nói chung và môi trường biển ở Việt Nam chưa bị ô nhiễm nhiều nhưng hạn chế là quản lý biển địa phương còn gặp những khó khăn, như ô nhiễm hữu cơ do nuôi trồng hải sản, sự cố tràn dầu, ô nhiễm rác thải do hoạt động du lịch, do hoạt động dân cư,... Những ô nhiễm như vậy làm chất lượng nước giảm sút, hàm lượng vi sinh nhiều (có những nơi còn nhiều hơn mức cho phép đến vài trăm lần), hàm lượng ô nhiễm hữu cơ vượt mức cho phép do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, ô nhiễm kim loại nặng do sử dụng hóa chất để khai thác vàng... Hệ sinh thái bị hủy hoại rất lớn, nuôi tôm thì phá rừng ngập mặn, đi du lịch thì phá hết quần đảo san hô, phá hoại rừng ven biển do quá trình phát trình phát triển kinh tế...

Rác thải phân hủy chậm như bao gói nhựa tổng hợp, vẫn còn là vấn đề nan giải không chỉ ở Việt Nam mà ở rất nhiều nước khác trên thế giới. Khi những loại rác dạng chất dẻo này bị vất xuống biển, chúng sẽ tạo thành những màng ngăn, khiến cho quá trình trao đổi khí giữa nước và đáy không thực hiện được, vùng đáy biển từ thoáng khí trở thành vùng yếm khí, phát sinh ra khí sunphua hydrô (H2S), gây nên mùi hôi thối, biến vùng nước sống thành vùng nước chết. Một khi đã biến thành vùng nước chết thì rất khó khăn để khôi phục lại được, hoặc phục hồi lại được thì cũng phải mất cả đời người.- từ 60 năm đến 100 năm sau. Hiện nay chúng ta có khoảng 80-90% đề tài tập trung nghiên cứu ở vùng biển ven bờ.

Muốn vươn ra biển để nghiên cứu, nhưng công cụ, trang thiết bị để nghiên cứu hầu như rất thiếu. Thậm chí đến nay chúng ta vẫn chưa có nổi một con tàu nghiên cứu để ra đại dương. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực để làm việc trên biển cũng "khan hiếm". Lớp cán bộ được đào tạo ở nước ngoài từ những năm 1960-1970 thì đã đến tuổi sắp về hưu, lớp cán bộ trẻ kế cận thì không kịp bổ sung.

Hiện nay, Viện Hải dương học Nha Trang của chúng ta về hình thức thì rất là mạnh, nhưng đóng góp vẫn hết sức nhỏ bé và khiêm tốn. So với yêu cầu thực tế thì cần có sự đầu tư nhiều hơn nữa, đầu tư đúng hướng, tập trung. Các nhà hải dương học phải có cơ hội đi thực địa nhiều ở biển.

Đến nay, chúng ta chưa có một chiến lược về phát triển và bảo vệ biển.
Mặc dù chúng ta có rất nhiều chương trình về biển nhưng rất tiếc đến nay, chúng ta vẫn chưa có kế hoạch tổng thể lâu dài. Việc soạn thảo một chiến lược về biển thì rất phức tạp và khó khăn, cần đến sự bàn bạc thống nhất của những nhà khoa học, những nhà kinh tế, quản lý và những nhà chiến lược tầm cỡ. Ngoài ra, còn phải có tiềm lực để thực hiện chiến lược ấy.

Tuy vậy, vấn đề sống còn của Việt Nam là biển. Nghiên cứu phát triển và bảo vệ biển thì sẽ phải làm những gì? Từ năm nào đến năm nào, sẽ làm gì? Ai sẽ làm? Làm bằng cách gì?... Tất cả những vấn đề ấy, cần phải có trả lời. Phía những người làm khoa học, chúng tôi rất sẵn sàng tham gia vào những công việc này. Kho tư liệu ở Viện Hải dương học khá phong phú và đầy đủ các tài liệu để soạn thảo. Chúng tôi nắm rất nhiều tư liệu trong và ngoài nước về khai thác và bảo vệ biển nhưng làm thế nào, lấy nguồn vốn, nhân lực ở đâu, kế sách bước đi như thế nào thì cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà quản lý, các nhà chiến lược, chính sách. Khoa học chỉ đóng vai trò tư vấn về cơ sở khoa học.

Nguồn: Việt Nam Net 6/6/2004

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia