Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2004 » Số 9 » Công nghệ Môi trường » Xử lý nước thải bằng phương pháp tuần hoàn tự nhiên

Xử lý nước thải bằng phương pháp tuần hoàn tự nhiên

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 9/Công nghệ Môi trường
Đề mục : 87.53 Chất thải. Quản lý và sử dụng chất thải, công nghệ ít chất thải và không chất thải
Từ khoá : nước thải tuần hoàn tự nhiên
Nội dung:
 

Để giảm lượng ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra, các quốc gia trong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Phi-líp-pin, Nhật Bản đã ứng dụng thành công phương pháp xử lý bằng hệ thống tuần hoàn tự nhiên (NCSWT). Vừa qua, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Môi trường và An toàn Hóa chất (Viện Hóa học Công nghiệp) đã thử nghiệm thành công NCSWT tại Hà Nội, mở ra hướng làm sạch nước sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.

NCSWT là hệ thống tuần hoàn tự nhiên để làm giảm các chất ô nhiễm hữu cơ, các hợp chất hữu cơ, hợp chất chứa ni-tơ, phốt-pho, chất rắn lơ lửng, màu và mùi trong nước thải. Nguyên tắc của hệ thống dựa trên hoạt động của các vi sinh vật có sẵn trong tự nhiên nhằm phân hủy các hợp chất hữu cơ. Để tạo điều kiện tốt hơn cho các vi sinh vật này sinh trưởng và phát triển, hệ thống sử dụng nhiều loại vật liệu tự nhiên, được xử lý theo các phương thức khác nhau, tạo nên môi trường sống phù hợp với chức năng phân hủy các chất ô nhiễm có trong nước bẩn. Hệ thống còn có các quá trình làm sạch nước ô nhiễm dựa trên nguyên lý cơ học (lắng, lọc) và quá trình hóa học (ôxi hóa, hấp thụ, hấp phụ). Kết quả là nước ô nhiễm khi chảy lần lượt qua 5 ngăn của hệ thống sẽ được làm sạch với hiệu suất cao.

Tại Nhật Bản, hiện có 40 hệ thống NCSWT với quy mô và công suất khác nhau, góp phần rất lớn vào quá trình làm sạch một số sông, hồ nổi tiếng. Năm 2000, với sự giúp đỡ của trường Đại học Tổng hợp Tô-ky-ô, các cán bộ Viện Hóa học Công nghiệp của Việt Nam đã sang Nhật Bản để nghiên cứu và học tập về NCSWT. Sau đó, hệ thống này đã được xây dựng tại phòng thí nghiệm của Viện với vật liệu sẵn có trong nước. Kết quả thu được sau hơn 2 năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm là rất khả quan. Thành phần các chất độc hại, thủ phạm chính gây ô nhiễm nguồn nước như: BOD, COD, coliform,v.v... giảm rõ rệt.

Tháng 1/2004, với sự hợp tác giữa Viện Hóa học Công nghiệp, Trung tâm Quốc tế Chuyển giao Công nghệ Môi trường và Công ty Toyo Denka (Nhật Bản), hệ thống NCSWT thử nghiệm được lắp đặt tại Cầu Diễn với công suất tối đa là 60 m3/ngày đêm. Theo số liệu phân tích, hiệu quả xử lý trung bình một số chất sau quá trình xử lý tại trạm này như: COD, BOD 5, LAS, coliform, DO, pH gần tương đương với các hệ thống đang vận hành tại Trung Quốc, Thái Lan và Nhật Bản. Chắc chắn hiệu quả trên sẽ tăng lên theo thời gian khi hệ vi sinh vật tăng lên tối đa. Thành công lớn nhất do NCSWT đem lại là chi phí thấp hơn so với một số công nghệ xử lý nước thải đang vận hành. Hệ thống xử lý nước thải tại thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Công ty Bánh kẹo Tràng An, Khu Công nghiệp Biên Hòa II,v.v... đều có giá thành trên 4000 đồng/m3. Trong khi đó, với NCSWT, nếu được xây dựng quy mô tương tự các cơ sở trên, giá thành chỉ vào khoảng 1200-1400 đồng/m3 và vẫn cho chất lượng nước sau xử lý đạt loại A...

Quá trình áp dụng trong khu vực cho thấy, NCSWT có ưu điểm là được làm từ các vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm như: than củi, vỏ chai nhựa đã qua sử dụng, đá vôi,v.v... Dòng nước thải chảy trong hệ thống theo nguyên lý tự chảy, mức độ tiếp xúc giữa nước thải với vi sinh vật, các môi trường khử chất bẩn lớn, do đó hiệu quả xử lý của hệ thống luôn ổn định, hiệu suất và cường độ phân hủy các chất ô nhiễm trong nước thải đạt rất cao. NCSWT không sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý. Quá trình vận hành hệ thống khá đơn giản và giảm chi phí xử lý (chủ yếu là năng lượng cho quá trình thổi khí). Thời gian thay vật liệu xử lý khá lâu, khoảng 10-15 năm.

Từ kết quả thử nghiệm thành công, nhóm các nhà khoa học đã đề xuất phương án áp dụng NCSWT làm sạch nước sông, hồ bị ô nhiễm tại Hà Nội. Trước mắt, Trung tâm Môi trường và An toàn Hóa chất đề xuất 3 phương án xử lý nhằm cải thiện chất lượng nước sông Tô Lịch vốn đang bị ô nhiễm trầm trọng.

Hiện nay, tổng lượng nước thải sinh hoạt của Hà Nội xấp xỉ 500.000 m3/ngày đêm, nước thải trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ khoảng từ 250.000-300.000 m3/ngày đêm. Cho đến nay, có 36 xí nghiệp, nhà máy, 25 cơ sở dịch vụ lớn và 5 bệnh viện đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Lượng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường chiếm tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 5% tổng lượng nước thải của thành phố. (Theo tham luận của UBND thành phố Hà Nội tại Hội nghị Bảo vệ Môi trường Lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy năm 2003)

Nguồn: Hà Nội Mới, 3/5/2004

 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia