Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Môi trường và phát triển bền vững » 2004 » Số 9 » Môi trường toàn cầu » Môi trường bền vững - cốt lõi của phát triển kinh tế và giảm nghèo đói

Môi trường bền vững - cốt lõi của phát triển kinh tế và giảm nghèo đói

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Tên nguồn trích : Môi trường và phát triển bền vững
Dữ liệu nguồn trích : 2004/Số 9/Môi trường toàn cầu
Đề mục : 87 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
06 Kinh tế. Khoa học kinh tế
Từ khoá : giảm nghèo đói kinh tế
Nội dung:
 

Suy thoái môi trường vẫn còn là một trong những thách thức cấp bách nhất đối với các nước cùng chia sẻ dòng sông Mêkông một khu vực giàu tài nguyên, song lại có tỷ lệ nghèo đói cao. Với khả năng quản lý tốt môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nước có thể đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân nước mình.

Đó là thông báo trong Tập bản đồ Môi trường của Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng (GMS), tập tài liệu về môi trường có giá trị đầu tiên đối với GMS, do Ngân hàng Phát triển châu á (ADB) phối hợp với Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) xuất bản vào ngày 19/4/2004. Tài liệu cung cấp thông tin môi trường một cách toàn diện, vì thiếu thông tin thì sẽ hạn chế lớn đối với việc quy hoạch phát triển bền vững và ra quyết định trong tiểu vùng. Có khoảng 250 triệu người, phần lớn là nông dân sống ở năm nước trong tiểu vùng gồm: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.

Được minh họa bao quát bằng ảnh, bản đồ, ảnh viễn thám, bảng biểu, đồ thị và văn bản, Tập bản đồ cho thấy sự phong phú về các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng (gồm có nước, khoáng chất, năng lượng, đất ngập nước, đất rừng, đa dạng sinh học, các khu bảo tồn, nông nghiệp và nghề cá), những nỗ lực đang được tiến hành để giải quyết các vấn đề môi trường trong vùng. Ngoài ra, Tập bản đồ còn trình bày chi tiết về mối quan hệ giữa môi trường và con người ở GMS. Trong những thập kỷ tới, môi trường cùng với nghèo đói là một vấn đề cấp bách. Hiện nay, nhận thức rộng hơn về các mối quan tâm có liên quan cặt chẽ với nhau và rút cục là việc giảm nghèo đói và bảo vệ môi trường sẽ hỗ trợ lẫn nhau.

Tadao Chino, Chủ tịch ADB và Klaus Toepfer, Giám đốc Chấp hành UNEP cho biết " Tập Bản đồ giải thích rõ ràng phương thức hình thành biên giới của các nước thuộc tiểu vùng phù hợp với các nguồn tài nguyên được chia sẻ, có sự tương đồng về các thách thức mà các quốc gia này đang phải đối mặt và theo yêu cầu hợp tác tiểu vùng trong việc bảo vệ môi trường nhằm giúp các nước theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững". Ngoài ra, họ còn nhấn mạnh đến cam kết của các nhà lãnh đạo của các nước thuộc GMS đối với mục tiêu này như Tuyên bố tại Hội nghị thượng đỉnh năm 2002 đã nêu ra ra là "chúng ta cần phải bảo vệ tốt hơn môi trường của chúng ta. Chúng ta sẽ phải có trách nhiệm và khả năng quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên chia sẻ".

Tập bản đồ về môi trường là một nỗ lực quan trọng nhằm thúc đẩy sự hợp tác khu vực về môi trường theo Chương trình GMS, mà ADB đã hỗ trợ từ khi Chương trình bắt đầu hoạt động năm 1992.

Khi công bố về Tập bản đồ ở Manila, ông Chino đã kêu gọi tất cả các nước trong vùng GMS hãy cùng nhau hành động để bảo tồn môi trường vì lợi ích của các thế hệ tương lai. ADB và UNEP đang phối hợp hoạt động chặt chẽ về các vấn đề môi trường và giúp đỡ xây dựng tương lai bền vững cho các nước tiểu vùng.

Tập bản đồ chỉ ra rằng, dân số hiện nay của GMS là 1/4 tỷ người, có thể tăng tới 290 triệu người vào năm 2015. Sự tăng trưởng kinh tế trong hai thập kỷ tới có thể sẽ diễn ra do gia tăng về sản xuất công nghiệp và dịch vụ nhiều hơn là nông nghiệp.

Thái Lan, trung tâm kinh tế của tiểu vùng, sẽ tăng gấp đôi nhu cầu của họ về các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong một phần tư thập kỷ tới do mức tiêu thụ tăng lên. Dù ngành nông nghiệp sử dụng 50% người Thái Lan, thì cũng chỉ chiếm 9% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Ngành nông nghiệp hiện đang canh tác trên 21% diện tích đất của tiểu vùng.

Tăng năng suất nông nghiệp để đáp ứng gia tăng dân số và mức tiêu thụ cùng với mối lo ngại về chuyển đổi đất ngập nước nhiều hơn, sự xâm lấn rừng và đất nhiễm mặn nhiều hơn, ô nhiễm nước do các chất dinh dưỡng và độ độc trong đất tăng do sử dụng hoá chất.

Do các cơ hội tìm kiếm thu nhập ở nông thôn ngày càng hạn chế, nên sự di dân từ nông thôn ra thành thị sẽ tăng lên đáng kể. Trong vòng chưa đầy 15 năm, đã có hơn 50% dân cư ở các khu đô thị cần phải được cung cấp lương thực và thực phẩm.

Ô nhiễm nước và không khí trong GMS được khoanh vùng song vẫn gây ra các vấn đề nghiêm trọng do các hệ thống nước thải và các hệ thống thoát nước không được bảo dưỡng tốt, và do tình trạng ô nhiễm không khí, nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng ở các đô thị lớn, đặc biệt là do việc xử lý các dòng thải công nghiệp và các sản phẩm phụ độc và nguy hại của ngành công nghiệp đang phát triển.

Sự đóng góp của nghề cá nội địa vào nền kinh kế và cho phúc lợi xã hội bị đánh giá rất thấp. Khoảng 55 triệu người sống ở hạ lưu sông Mêkông (chiếm khoảng 1/3 diện tích tiểu vùng) trung bình tiêu thụ 56,6 kg cá/người/năm. Mặc dù quy định còn lỏng lẻo, đánh bắt quá mức và các phương thức đánh bắt hủy diệt, song sản lượng cá vẫn ổn định thậm chí còn tăng, tuy nhiên cần phải đưa ra các biện pháp bảo vệ cấp bách. Có 40% diện tích tiểu vùng được xếp loại là đất rừng, song tốc độ khai thác hiện nay là thiếu bền vững và tình trạng phá rừng là một thách thức trong toàn khu vực.

Việc bảo tồn có hiệu quả các vùng giàu đa dạng sinh học như rừng mưa ở dãy Trường Sơn– nằm dọc biên giới giữa Lào và Việt Nam, nơi duy nhất mà các loài động vật có vú cỡ lớn mới đã được phát hiện trong 50 năm qua – có thể đòi hỏi việc thiết lâp các khu bảo tồn xuyên biên giới.

Các sáng kiến bảo vệ các khu vực đa dạng sinh học quan trọng khác gồm việc lựa chọn Khu bảo tồn Sinh quyển Tonle Sap – nơi cư trú của phần lớn trong số 500 loài cá nước ngọt ở Campuchia. Hiện nay có 550 khu bảo tồn trong tiểu vùng, trong đó 380 khu vực coi việc bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ chính.

Tập bản đồ môi trường dẫn chứng các vấn đề môi trường xuyên biên giới như: phát triển thuỷ điện dọc sông Mêkông và các phụ lưu, việc đào kênh và nâng cấp đường thuỷ ở thượng nguồn sông Mêkông, sự mâu thuẫn về các quyền hàng hải đối với các nguồn lợi cá ngoài khơi, và việc buôn bán bất hợp pháp gỗ, động vật hoang dã, các loài động vật quý hiếm và đang bị nguy hiểm qua biên giới.

Tập bản đồ môi trường đã đánh giá sự tiến bộ của quốc gia trong việc đáp ứng các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và chỉ ra nhiều yêu cầu hơn cần được thực hiện để đáp ứng các mục tiêu đã được chính phủ các nước đã cam kết. Trong tài liệu cũng chỉ ra rằng, cứ năm người thì có một người vẫn còn sống trong nghèo đói và khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ở mỗi nước vẫn còn lớn.

Nguồn: unep, 4/2004

 

 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia