Khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường hợp lý |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích báo |
| Tên nguồn trích | : | Môi trường và phát triển bền vững |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2004/Số 1/Quản lý môi trường |
| Đề mục | : |
87.35 Sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên
87.15 Ô nhiễm môi truờng. Kiểm soát ô nhiễm |
| Từ khoá | : | bảo vệ tài nguyên |
| Nội dung: | ||
|
Với 80 triệu dân, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, tiến hành công nghiệp hóa, chúng ta đã và đang khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng, biển, động vật, thực vật làm cho các tài nguyên quý giá này bị cạn kiệt một cách nhanh chóng. Trong thời gian qua, độ che phủ của rừng Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động, chất lượng của rừng đã bị suy giảm nghiêm trọng. Trước đây, toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ trong mấy thập kỷ qua, diện tích rừng đã giảm nhanh chóng. Nếu năm 1943, rừng chiếm 43% tổng diện tích cả nước thì đến năm 1990, con số này chỉ còn 28,4%. Rừng bị xâm hại nặng, rừng nguyên thủy chỉ còn khoảng 10%. Miền Bắc Việt Nam là nơi độ che phủ của rừng suy giảm nhiều nhất, diện tích rừng nguyên thủy giảm từ 95% xuống còn 17% chỉ trong vòng 48 năm. Trong giai đoạn từ 1990 đến nay, rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mới đạt mức ổn định và đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường. Mất rừng đã gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, công ăn việc làm và cả phát triển xã hội. Trước đây, miền Nam là nơi rất ít khi xảy ra những trận lụt và úng kéo dài, nhưng hiện nay lũ lụt thường xuyên xảy ra. Trong mấy năm vừa qua lũ xảy ra ở hầu khắp các vùng của đất nước, từ Bắc tới Nam và đã gây nhiều thiệt hại về người và của cải (mùa màng, nhà cửa, xúc vật, v.v...), tổn thất hàng nghìn tỷ đồng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do suy thoái rừng, nhất là rừng đầu nguồn bị tàn phá. Hịên tượng thiếu nước ngọt và sự nhiễm bẩn nước ngọt ở nhiều nơi là vấn đề rất nan giái. Tiềm năng nước ngầm ở nước ta khoảng 48 tỷ m3/năm và trữ lượng khai thác dự báo từ 6-7 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, do độ che phủ của rừng đang giảm, hạn hán xảy ra thường xuyên trên nhiều vùng, đặc biệt là ở miền Bắc và miền Trung. Nhiều vùng bị thiếu nước trầm trọng, nhất là ở Đồng Văn, Lai Châu, Hà Tĩnh, Quảng Trị; vào mùa khô nhiều nơi nhân dân phải đi từ 5-10 km để lấy nước. Ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội. Tất cả 2360 con sông lớn nhỏ của Việt Nam đều bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau do một tỷ m3 chất thải hàng năm chưa được xử lý, xả trực tiếp ra sông. Môi trường biển và vùng ven biển đã bị thoái trầm trọng. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km với đặc điểm có nhiều vùng đất ngập nước và nhiều kiểu hệ sinh thái biển, ven biển, nhưng các hệ sinh thái này đang bị biến đổi nhanh chóng. áp lực kinh tế hiện nay đã biến rừng ngập mặn thành đất canh tác hoặc nuôi trồng thủy sản. Nghề đánh cá ven bờ đang khai thác quá mức, phương pháp đánh bắt có tính hủy diệt. Mặt khác, việc sinh sống của cư dân tập trung phần lớn ở vùng ven biển cộng với việc sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp đều tập trung ở vùng này nên tình trạng ô nhiễm công nghiệp và đô thị cùng nhiều hình thức phát triển khác trong vùng lưu vực sông lại càng đe dọa nghiêm trọng đến tài nguyên vùng viển và ven biển. Nước ta có tổng số 623 thành phố, thị xã, thị trấn với tỷ lệ dân số chiếm 23,9%. Môi trường đô thị đang bị ô nhiễm do chất thải rắn chưa được thu gom, nước thải chưa được xử lý theo đúng quy định. Trong khi đó, khí thải, tiếng ồn, bụi,v.v... từ các phương tiện giai thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ, cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém, càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang lâm vào tình trạng báo động. Hệ thống cấp, thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng. Mức ô nhiễm bụi và các khí thải độc hại ở nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 2-3 lần như ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Chất lượng môi trường nông thôn có xu hướng suy giảm nhanh chóng. Việc sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trong nông nghiệp khiến cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái. Bên cạnh đó, phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề, cơ sở chế biến ở một số vùng với công nghệ sản xuất lạc hậu, hầu như không có thiết bị xử lý chất thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, chính sách, liên quan đến việc bảo vệ môi trường như Luật Bảo vệ Môi trường, Nghị định 175/CP về Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường,v.v... Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh các hoạt động liên quan đến khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên như Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước,v.v... Việt Nam cũng đã phê chuẩn 13 công ước quốc tế về môi trường và đang nỗ lục thực hiện cam kết và nghĩa vụ của một nước thành viên. Tuy nhiên, nước ta là một nước nghèo, dân số đông. Để duy trì cuộc sống trước mắt, nhiều người buộc phải khai thác tài nguyên thiên nhiên dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, môi trường suy thoái. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường không chỉ là vấn đề giáo dục, thực thi pháp luật, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường mà còn phải chú ý đến những vấn đề kinh tế, xã hội khác, chủ yếu là cải thiện mức sống của người dân, nhất là những người dân nghèo. Nguồn: Hà Nội mới, 28/12/2003 |
||
