Biết được năm sinh qua mắt |
||
| Dạng tài liệu | : | Bài trích tạp chí |
| Ngôn ngữ tài liệu | : | vie |
| Tên nguồn trích | : | Khoa học Công nghệ Môi trường |
| Dữ liệu nguồn trích | : | 2008/Số 3/Bạn có biết |
| Đề mục | : | 34.99 Các vấn đề khác của sinh học |
| Từ khoá | : | Mắt ; Năm sinh |
| Nội dung: | ||
|
Thủy tinh thể của mắt được cấu tạo từ các protein trong suốt, gọi là thể thủy tinh (crystallins). Chúng được bó chặt với nhau và theo một cách đặc biệt, khiến cho chúng như những tinh thể, cho phép ánh sáng đi qua thủy tinh thể, vì vậy chúng ta có thể nhìn được.
Sử dụng phương pháp xác định tuổi bằng phóng xạ cascbon và các protein đặc biệt trong thủy tinh thể của mắt, các nhà nghiên cứu ở ĐH Copenhagen và Aarhus có thể xác định được, với độ chính xác tương đối cao, một người được sinh ra khi nào. Điều này cung cấp một công cụ hữu hiệu cho các nhà khoa học pháp lý, họ có thể sử dụng nó để biết được ngày sinh của một cơ thể không xác định nhận dạng được và cũng có thể tạo ra thêm những kết quả cho nghiên cứu sức khỏe Thủy tinh thể của mắt được cấu tạo từ các protein trong suốt, gọi là thể thủy tinh. Chúng được bó chặt với nhau và theo một cách đặc biệt, khiến cho chúng như những tinh thể, cho phép ánh sáng đi qua thủy tinh thể, vì vậy chúng ta có thể nhìn được. Từ lúc thụ thai cho đến khi 1-2 tuổi, các tế bào trong thủy tinh thể của con người tạo ra những protein thể thủy tinh này. Tuy nhiên, khi công việc xây dựng hữu cơ này được làm xong, các thủy tinh thể vẫn tồn tại không thay đổi gì trong suốt quãng đời còn lại của chúng ta. Hiện tượng này giờ đây có thể được các nhà nghiên cứu khai thác một cách hữu dụng. Một lượng nhỏ Cácbon (C-12) có trong khí cácbon nic (carbon-dioxide) của khí quyển có thêm 2 nơtron và do vậy chúng được gọi là Cácbon-14 (C-14). Đồng vị này là phóng xạ, những phân rã rất chậm và vô hại thành nitơ, vì vậy thành phần các bon nhỏ bé này, diễn ra hoàn toàn tự nhiên trong thiên nhiên, không hề có hại cho người, động vật và thực vật. Cùng lúc đó, cácbon là một trong những nguyên tố hữu cơ chủ yếu, và thường xuyên luân chuyển vào và ra trong chuỗi thức ăn. Giống hệt như lượng C-14 nhỏ bé trong khí quyển. Do sinh vật là thành phần của chuỗi thức ăn, lượng C-14 trong các tế bào của chúng sẽ không đổi và giữ ở cùng mức với hàm lượng C-14 trong khí quyển. Tuy nhiên, khi sinh vật chết đi, lượng C-14 sẽ chậm chạp giảm đi sau hàng nghìn năm, khi chúng chuyển hóa thành nitơ. Đây là chìa khóa cho phương pháp cácbon 14, được biết dưới tên gọi là xác định niên đại b ằng phóng xạ cácbon, đã được các nhà khoa học sử dụng để xác định niên đại cho những phát hiện khảo cổ, sinh học có tới 60.000 năm tuổi. Từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới II cho đến khoảng những năm 1960, các cường quốc trong kỷ nguyên Chiến tranh lạnh, đã tiến hành nhiều vụ thử hạt nhân, cho nổ bom trong khí quyển. Những vụ nổ bom nguyên tử này đã ảnh hưởng đển hàm lượng các vật chất dẫn đến phóng xạ trong không khí và đã tạo ra hiện tượng mà các nhà khoa học cho là xung bom C-14. Kể từ vụ nổ hạt nhân đầu tiên cho đến khi lệnh cấm thử hạt nhân được đưa ra, hàm lượng C-14 trong bầu khí quyển đã tăng gấp đôi. Từ năm 1960, hàm lượng này chỉ giảm xuống rất chậm xuống các mức tự nhiên. Sự tăng đột ngột này đã để tại dấu ấn trong chuỗi thức ăn và do vậy cũng ảnh hưởng đến thủy tinh thể trong mắt, nơi đã hấp thụ một hàm lượng cácbon cao thông qua thực phẩm. Do thủy tinh thể sẽ không thay đổi, nên chúng phản ánh lượng C-14 hiện diện trong khí quyển vào thời điểm chúng được hình thành. Hiện tượng diễn ra ngay sau khi sinh. Bằng máy gia tốc nguyên tử lớn, các nhà vật lý ở trường ĐH Aarhus có thể xác định lượng C-14 có trong 1 miligam mô thủy tinh thể và từ đó tính được năm sinh. M.Q. (theo ScienceDaily, 30/1/2008) |
||
