Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:
Home » Cơ sở dữ liệu toàn văn » Ấn phẩm điện tử » Khoa học Công nghệ Môi trường » 2005 » Số 12 » Tham khảo-tìm hiểu » Nước Pháp của công nghệ, khoa học và đổi mới - nhân tố tạo thành công

Nước Pháp của công nghệ, khoa học và đổi mới - nhân tố tạo thành công

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 12/Tham khảo-tìm hiểu
Đề mục :
Từ khoá :
Nội dung:
Với hàm nghĩa công nghệ là nghệ thuật biến đổi một phát minh khoa học thành của cải vật chất và dịch vụ hữu ích cho con người, trên 2 thế kỷ đã qua, khoa học và công nghệ của nước Pháp đã không ngừng đổi mới để xây dựng một nước công nghiệp hùng mạnh. Tri thức và tiến bộ kỹ thuật đã trở thành cái nôi sản sinh nhiều công nghệ mới. Con người và việc làm, công trình và sản phẩm tạo ra sự biến đổi công nghiệp 50 năm gần đây đã giúp Pháp có được vị thế cao trên thế giới. Trong những thành công có được, các nhà khoa học đã thể hiện rõ trách nhiệm chính trị, họ đã nhận thức đúng đắn việc cần làm để đưa ra những thông tin chân thực, đồng bộ và dễ hiểu để vận dụng trong xây dựng chính sách đổi mới quốc gia.
Đóng góp ấn tượng của KH&CN trong phát triển KT-XH
Đổi mới công nghệ và công nghiệp hóa mạnh mẽ trên các lĩnh vực quyết định đến kỹ thuật và phát triển kinh tế, đã đưa nước Pháp cất cánh để trở thành 1 trong 5 quốc gia công nghiệp mạnh nhất thế giới với giá trị xuất khẩu bình quân đầu người vượt qua Anh, Nhật, Hoa Kỳ và chỉ đứng sau CHLB Đức. Trong quá trình phát triển, công nghiệp thực phẩm nước Pháp đã trở thành ngành công nghệ cao có vị trí hàng đầu châu Âu. Đây cũng là lĩnh vực thể hiện thành công những đổi mới cả trong công nghệ và tổ chức sản xuất để có doanh thu hàng năm trên 122 tỷ euro (chiếm gần 20% tổng giá trị toàn châu lục). Tương tự với công nghiệp thực phẩm, các lĩnh vực khác trong nền kinh tế cũng luôn tự thích ứng được với những biến đổi khoa học và kỹ thuật. Nếu khả năng đổi mới là cái có thể để thâm nhập thị trường, thì tri thức và bí quyết công nghệ cũng đã trở thành động lực của sự phát triển. Cùng với trào lưu biến đổi không ngừng của cách mạng KH&CN, động lực biến đổi này không thể thiếu vắng những nhà khoa học tài năng và các nhà quản lý giỏi để đặt đúng vị trí hàng đầu của công nghệ. Với tiềm lực KH&CN và năng lực quản lý có được, sự nghiệp công nghiệp hóa nước Pháp liên tục gia tăng trong 2 thế kỷ qua, đặc biệt, nửa cuối thế kỷ XX đã được coi là thời kỳ hiện đại hóa nhanh nhất.
Từ công thức nổi tiếng của Jean Fourastie thể hiện công nghiệp hóa đi cùng với lượng tiêu dùng gia tăng cao, nền sản xuất xã hội đã ngày càng gắn bó với đổi mới nghiên cứu bằng cách tự xích lại gần với công nghiệp của các trường đại học. Nhờ những đổi mới công nghệ, các lĩnh vực sản xuất dịch vụ đều có năng suất cao, tạo thuận lợi để phân công lại lao động. Nếu 56 năm trước chiến tranh thế giới thứ 2 (kể từ năm 1896), năng suất lao động chỉ tăng 3 lần, thì 28 năm sau đó (năm 1979) đă tăng trên 4,2 lần. Với tiến bộ này, tỷ lệ lao động xã hội trong nông nghiệp đã giảm 11 lần chỉ còn 5%, trong các nhà máy còn dưới 26% và trong hoạt động dịch vụ đã chiếm gần 70%.
Hiện đại hóa nước Pháp được biết đến không chỉ là việc mở rộng không gian công nghiệp mà quan trọng là những đổi mới cơ sở hạ tầng KH&CN thông qua một hệ thống chương trình công nghệ to lớn trong các lĩnh vực then chốt về nguyên tử, hàng không vũ trụ, điện tử... Với đặc trưng tạo ra sản phẩm có sự hỗ trợ của Nhà nước trong khuôn khổ chính sách được cân nhắc, những thiết chế đổi mới đã hướng vào khoa học bắt kịp kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông nghiệp và công nghiệp, đảm bảo uy tín quốc tế trong phát triển thị trường chung châu Âu và cạnh tranh mở cửa nền kinh tế toàn cầu.
Quá trình cơ cấu lại nền công nghiệp, đổi mới công nghệ đã góp phần to lớn vào giảm dần các lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt, da, kim loại truyền thống..., phát triển mạnh những ngành công nghiệp kỹ thuật mới phi vật chất và từ đó làm đảo lộn nhiều lĩnh vực hoạt động. Vào thập niên 1980, nhiều nguồn đầu tư lớn đã tập trung vào khuyến khích nghiên cứu phát triển và nâng cao năng lực đổi mới. Chính sách công nghiệp mới đã nhằm vào thích ứng công cụ sản xuất và thay thế công nghệ tiến bộ trong bối cảnh quốc tế mới. Những năm 1990, nền kinh tế Pháp có biến đổi nhanh, đã mở cửa hoàn toàn với thị trường bên ngoài; các doanh nghiệp Nhà nước được tiếp nhận vốn tư nhân và tư nhân hóa. Toàn cầu hóa và tự do hóa đã khai thông những ưu thế của chính sách đổi mới, thúc đẩy mạnh việc phối hợp của các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là tăng cường hợp tác KH&CN trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu.
Chính sách KH&CN và những vấn đề thực tiễn
Năm 1936, Mặt trận Bình dân đã đưa ra một chính sách được cân nhắc về khoa học kỹ thuật. Với chính sách này, Pháp là nước kinh tế thị trường đầu tiên có chức Bộ trưởng nghiên cứu khoa học. Trong hiện đại hóa đất nước, Pháp đã có nhiều nỗ lực để đổi mới cấu trúc và việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu - phát triển.
Giữa Nhà nước và thị trường, chính sách Nhà nước can thiệp sâu vào lĩnh vực an ninh quốc phòng, trong ngành công nghiệp năng lượng với 80% sản lượng điện từ các trung tâm nguyên tử và vận tải với tầu TGV có tốc độ trên 300km/giờ, đảm bảo hệ thống đào tạo tuyển chọn nhân tài quốc gia với những đại học nổi tiếng như l’Ecole polytechnique, l’Ecole normale superieuse, l’Ecole nationale d’administration...; tạo thuận lợi cho những khởi xướng, xây dựng mô hình văn hóa doanh nghiệp. Trong thực hiện chiến lược, Nhà nước giữ vai trò chủ công trình, chủ thầu và đảm bảo thị trường vận hành trong mạng lưới và hệ thống lớn. Các công nghệ cấu thành về truyền thông đa phương tiện, công nghệ sinh học, vật liệu mới... thường được sản sinh từ đầu tri thức và vốn rủi ro có nguồn gốc từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, được liên kết chặt chẽ với nghiên cứu đại học hơn là các doanh nghiệp Nhà nước. Mô hình Khoa học - Công nghiệp có mối liên kết giữa chính sách công nghệ với ngoại thương, một đặc trưng của Pháp sau chiến tranh, không còn thích hợp trong điều chỉnh và mở rộng các lĩnh vực công nghệ mới. Từ những năm 1990, nhiều doanh nghiệp khoa học được hình thành trong dòng xoáy nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS) và trong các trường đại học, để đưa nhanh những phát hiện khoa học và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống.
Trong những tác nhân đổi mới, các trường kỹ thuật và quản lý dường như ít uy tín hơn những tổ chức quy mô lớn ở gần vùng lãnh thổ và nơi có nhu cầu, do những tác nhân này có khả năng tiếp tục đổi mới nhanh cả về mạng lưới, văn hóa doanh nghiệp lẫn thiết kế và tiếp thị. Quá trình tự do hóa và tư nhân hóa đã làm cho chính sách đổi mới đa dạng hơn, tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển các doanh nghiệp mới khởi sự, gắn người nghiên cứu với các nhà thầu và thúc đẩy không khí thuận lợi cho đầu tư nghiên cứu, đổi mới. Với đặc điểm mở rộng các nguồn lực phi vật chất trong xã hội hậu công nghiệp, đổi mới trong tự do hóa và tư nhân hóa đã trở thành cái nôi của công nghiệp hóa kiểu mới. Công cuộc công nghiệp hóa cùng với những thay đổi mạnh mẽ trong các đại học và các tổ chức nghiên cứu hướng về công nghiệp đã mở ra nhiều khả năng mới, đặc biệt là ở các viện nghiên cứu trong trường đại học công nghệ được thành lập sau này.
Các trường đại học công nghệ thành lập vào thế kỷ 1970 đã có những bứt phá trong đào tạo kỹ sư nghiên cứu ở nhiều địa phương. Nhờ vậy, hệ thống nghiên cứu khoa học không còn quá tập trung ở Paris và đảo Ile de France mà đã mở rộng đến nhiều vùng. Cùng với luật phi tập trung hóa, các cơ sở nghiên cứu vùng hình thành đã giúp cho các tỉnh vốn là cha nghèo (Parents Pauvres) hoặc được coi là sa mạc nước Pháp (le Desert Francais) về khoa học đã lợi dụng được nhanh cả về quyền lực và phương tiện khuyến khích các hoạt động nghiên cứu để trở thành các cực phát triển KH&CN và đổi mới.
Các cực khoa học chuyên môn hóa hình thành trên toàn lãnh thổ không phải là sự chờ đợi từ những khởi xướng hoặc nguồn tín dụng từ phía Nhà nước. Nhiều năm qua, các tỉnh Lyon, Grenoble, Strasbourg, Toulouse... đã thể hiện rõ tính chủ động trong phát triển công nghiệp vững chắc dựa trên quyền tự chủ và các công nghiệp địa phương đồng thời với thu hút các nhà nghiên cứu, đào tạo, những con người hành động các các nhà thầu. Vùng này đã tạo ra không chỉ các trường đại học kỹ thuật mới, những quan hệ cộng tác gắn bó giữa đại học với các doanh nghiệp mà còn là những viện nghiên cứu, các lò phản ứng và nhiều nhà khoa học. Tương tự như Grenoble, cực KH&CN ở Toulouse liên quan đến ngành hàng không vũ trụ và điện tử là sự tiếp nối mô hình chịu ảnh hưởng của các nhà khoa học lớn như Georges Dupouy tạo lập. Có thể nói, từ sau luật phi tập trung và những chính sách lãnh thổ, nước Pháp đã khắc phục có kết quả tình trạng tập trung quá mức lực lượng nghiên cứu ở Paris và đảo Ile de France.
Nét riêng của hệ thống khoa học và đổi mới
Việc đánh giá những tác nhân trong hệ thống nghiên cứu và đổi mới ở Pháp không chỉ giới hạn ở dòng tài chính, nguồn nhân lực và sản phẩm mà còn được thể hiện thông qua những thể chế và định hướng chính sách. Công cụ của chính sách và định hướng quốc gia được thiết lập do Ủy ban Liên bộ nghiên cứu KH&CN (CIRST) và 2 Ủy ban Quốc gia độc lập có nhiệm vụ đánh giá nghiên cứu hàn lâm (CNE) và đánh giá hệ thống công ích (CNER) thực hiện.
Vào cuối thập niên 1990, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của Pháp hàng năm vào khoảng 29 tỷ euro (2,2% GDP) với nguồn vốn từ các doanh nghiệp chiếm trên 55%. Từ cách tiếp cận mới trong chủ trương chính sách và chiến lược quốc gia, 37% còn lại đầu tư vào nghiên cứu hàn lâm. Trong tổng số vốn nghiên cứu và phát triển của cả nước, 62% được thực hiện trong các cơ sở nghiên cứu tư và doanh nghiệp. Việc quản lý vốn đầu tư KH&CN có 2 nguồn đặt ở Bộ Khoa học là Quỹ khoa học quốc gia (FNS) và Quỹ nghiên cứu công nghệ (FRT) với các chi nhánh cấp vốn từ các nguồn có mục tiêu, chịu trách nhiệm về những dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc hỗ trợ đổi mới công nghệ trong lĩnh vực môi trường và kinh tế năng lượng.
Thiết chế nghiên cứu công ích bao gồm những nội dung gắn nghiên cứu hàn lâm với đào tạo đại học và những nghiên cứu được cấp vốn từ nguồn của Nhà nước. Trong nghiên cứu công nghiệp, Pháp có trên 70 nghìn nhà nghiên cứu triển khai hoạt động trong 4.650 doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp, họ sử dụng chừng 60% số vốn nghiên cứu và phát triển quốc gia. Việc đổi mới trong các doanh nghiệp được đánh giá định kỳ trong thời hạn 5 năm. Theo tư liệu công bố gần đây, cuối thập kỷ 1990, 41% số doanh nghiệp có đổi mới công nghệ đã nâng cao được 23% thu nhập.
Ở tầm quốc gia, luật định hướng và chương trình hóa xây dựng từ năm 1982 đã xác định vùng lãnh thổ có vai trò hàng đầu trong chính sách nghiên cứu và đổi mới. Trong kế hoạch quốc gia và các vùng lãnh thổ, hàng năm Nhà nước đã hỗ trợ trên 460 tỷ euro cho các đại học, hiện đại hóa phòng thí nghiệm công và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên các vùng lãnh thổ.
Trong cộng đồng châu Âu, Chương trình hợp tác và nghiên cứu phát triển của Pháp đã nhằm vào thiết lập một không gian khoa học và công nghệ. Chương trình này đã sử dụng chừng 13% vốn nghiên cứu phát triển dân sự, hàng năm các nhà khoa học Pháp thực hiện trên 950 dự án nghiên cứu chiếm 41% tổng số dự án nghiên cứu của cả cộng đồng.
Từ những việc làm trong quá trình đổi mới KH&CN của một quốc gia có nền khoa học phát triển cao, nhiều thành tựu KH&CN đã được mở rộng ra nhiều vùng lãnh thổ chưa phát triển theo hướng phi tập trung hóa có thể là những tham khảo có ích trong đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở các vùng lãnh thổ nước nhà.
Lê Thành Ý (Nguồn tài liệu La France de la technologie của Bộ Ngoại giao Pháp)
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia