Tìm kiếm nâng cao

Số truy cập:

Khám phá bí ẩn Amazôn

  
Dạng tài liệu : Bài trích bản tin
Ngôn ngữ tài liệu : vie
Tên nguồn trích : Khoa học Công nghệ Môi trường
Dữ liệu nguồn trích : 2005/Số 10/Tham khảo-tìm hiểu
Đề mục : 39.19 Địa lý tự nhiên
39 Ðịa lý
Từ khoá : Amazôn
Nội dung:
Khu rừng lớn nhất và giàu đa dạng sinh học nhất thế giới đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng. Tất cả chúng ta đều biết rừng mưa Amazôn đang biến mất với diện tích khoảng một phần năm do khai thác gỗ và chăn thả gia súc. Những phát hiện của các nhà địa lý cho thấy chúng ta vẫn không biết được chính xác khu rừng mưa này có thể tiếp tục là lá phổi của hành tinh trong bao lâu nữa hay thậm chí chúng hoạt động thực tế như thế nào.
Các nhà địa lý và khoa học trái đất đến từ Pêru, Đức, Tây Ban Nha, Đài Loan và Côlômbia đã trở về sau hai tháng khảo sát thực địa vào sâu trong khu rừng Amazôn ở Pêru. Họ là những người rất quan tâm đến vai trò của các khu rừng nhiệt đới trong chu trình cácbon toàn cầu. Các khu rừng này lưu giữ lượng rất lớn cácbon và có ý nghĩa sống còn cho việc tìm hiểu chính xác có nhiêu cácbon được lưu giữ ở đây và khối lượng này thay đổi theo theo thời gian như thế nào.
Từ những năm đầu của thập kỷ 80, cứ 4-5 năm một lần, nhóm nghiên cứu tiến hành đo đường kính của các cây tại 100 khu vực. Điều này cho phép các nhà khoa học tính được lượng cácbon dự trữ trong mỗi cây cũng như cả khu rừng và khối lượng này thay đổi như thế nào kể từ khi dự án bắt đầu.
Tại các khu vực khác nhau, lượng cácbon dự trữ ở các khu rừng cũng khác nhau. Các cây trên lãnh thổ Pêru có độ dày gỗ nhỏ hơn so với các cây ở Braxin, và như vậy dự trữ ít cácbon hơn. Các nhà nghiên cứu tin rằng điều này liên quan đất chất lượng đất hơn là khí hậu. Nhìn chung, đất ở Pêru màu mỡ hơn, các loài cây tăng trưởng nhanh có độ dày gỗ thấp lại có ưu thế cạnh tranh.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện thấy cây trong rừng đang bị chết với tốc độ ngày càng tăng. Tuy nhiên, tốc độ cây chết bù lại do tốc độ sinh trưởng nhanh, do vậy vẫn làm cho lượng cácbon dữ trữ ở rừng Amazôn tăng đều. Sinh khối tăng lên cũng có nghĩa cácbon trong khí quyển được hấp thụ nhiều hơn và như vậy những cây này sẽ giúp làm chậm lại quá trình biến đổi khí hậu. Nhưng đáng tiếc là các nhà nghiên cứu lại tin rằng tốc độ tăng trưởng nhanh và sinh khối tăng là do CO2 dư thừa trong khí quyển đã làm cho các khu rừng trở nên màu mỡ hơn. Các khu rừng mưa đang phản ứng lại trước sự biến đổi khí hậu do con người.
Tuy nhiên, nhìn chung đây vẫn là những tin tốt lành. Chúng ta không biết được những gì xảy ra về lâu dài, song rõ ràng là nếu các cây tiếp tục bị chết khi còn non thì chắc chắn sinh khối rừng sẽ giảm. Và điều này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học rừng.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng cơ sở dữ liệu về 2.500 loài cây để xem xét loài nào và các đặc điểm riêng biệt nào của rừng đang thay đổi trên diện rộng. Các loài gỗ nhẹ có mật độ thấp chứa ít cácbon hơn. Còn các loại gỗ nặng dự trữ nhiều cácbon hơn, vì vậy sự suy giảm về số lượng các loài cây gỗ nặng sẽ có những ảnh hưởng tai hại về môi trường.
Các thay đổi về đa dạng sinh học trong 25 năm qua sẽ có những ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, hiểu được các nguyên tắc hoạt động cơ bản của rừng mưa có ý nghĩa quan trọng thiết yếu. Các nhà khoa học mới chỉ phát hiện được một kiểu rừng mới làm thay đổi những hiểu biết trước đây về thành phấn các loài của rừng Amazôn.
Những nghiên cứu trước đây cho thấy các loài cây có sự khác biệt rõ ràng giữa khu vực phía đông và phía tây rừng Amazôn. Song ở một số loại đất khác thường hiếm thấy ở cực tây Amazôn, các nhà khoa học đã phát hiện loại thảm thực vật có thành phần rất cần thiết cho thành phần thảm thực vật ở miền đông. Một số khu vực thử nghiệm ở Pêru cũng có những loài tương tự các loài tìm thấy ở Braxin, xuất hiện nhiều hơn so với các khu rừng lân cận.
Câu hỏi lớn đặt ra cho nhóm nghiên cứu hiện nay là làm thế nào để kiểm soát các khu rừng – các diễn thế sinh thái hiện nay hay các mô hình tiến hóa lịch sử. Hiểu được các quá trình này sẽ giúp xác định được các thay đổi do biến đổi môi trường toàn cầu. Hiện nay, các khu rừng này hấp thụ hơn hai lần lượng phát thải của Anh mỗi năm. Biết được tương lai của các khu rừng mưa này có ý nghĩa quan trọng toàn cầu.
N.H. (theo www.leeds.ac.uk, 6/2005)
 
Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia